Dưới cái nhìn của anh hề - Chương 15 phần 3
Đến ngày cuối tuần, để xin
hoãn trả tiền trọ, Marie tìm đến bà chủ nhà và không thoát được cơn giận của bà
ta và câu hỏi là tại sao tôi không đi làm. Và Marie trả lời giọng thống thiết
tuyệt vời: “Chồng tôi là một nghệ sĩ, bà thấy không, một nghệ sĩ!” Một hôm, từ
trên bậc thang bẩn thỉu Marie hét lên với bà ta: “Vâng, một nghệ sĩ đấy!” Bà
chủ nhà tru tréo với cái giọng khàn khàn của bà ta: “Sao! một nghệ sĩ? và thêm
vào đó là chồng của cô! Hẳn là người ta phải cười rất vui ở phòng hộ tịch!”
Điều làm cho bà ta bực nhất là thấy chúng tôi cứ nằm dài trên giường cho đến
tận mười hoặc mười một giờ trưa. Bà ta thiếu óc tưởng tượng để có thể quan niệm
được rằng bỏ một bữa ăn là cách tốt nhất để tiết kiệm điện lò sưởi. Vả lại bà
ta cũng không biết là chúng tôi chỉ có thể tập dượt từ buổi trưa trong ngôi nhà
nhỏ của cha xứ, ngôi nhà này bận suốt buổi sáng: khám bệnh cho các trẻ sơ sinh,
giảng giáo lí, hướng dẫn nghệ thuật nấu ăn hoặc có các cuộc thảo luận của một
hội chia lô Cơ Đốc giáo nào đó. Nơi chúng tôi ở rất gần ngôi nhà thờ ở đó
Heinrich Behlen làm phó linh mục. Cùng lúc thuê phòng trọ cho chúng tôi, ông ta
đã để tôi sử dụng gian buồng nhỏ có cả sân khấu làm chỗ luyện tập. Nhiều giáo
dân khi đó tỏ ra ân cần đối với chúng tôi. Như bà hướng dẫn nghệ thuật nấu ăn ở
bếp nhà cha xứ, bao giờ bà cũng cho chúng tôi những thứ còn lại: thường là súp
và bánh pu-đinh, đôi khi cả thịt nữa. Khi Marie giúp bà thu dọn, nếu gặp dịp bà
còn giúi vào tay Marie cả một gói bơ hay một túi đường. Thỉnh thoảng bà ra xem
tôi tập và cười đến đau bụng, rồi pha cà phê mời chúng tôi. Một hôm bà biết
được là chúng tôi chưa cưới nhau, nhưng không vì thế mà thay đổi thái độ. Tôi
có cảm tưởng là bà không thể ngờ được một nghệ sĩ lại có thể “cưới vợ”. Vào
những ngày trời lạnh, chúng tôi thường đến rất sớm. Như vậy, Marie có thể cùng
dự nghe nghệ thuật nấu ăn, còn tôi ngồi đọc sách ở phòng gửi quần áo bên một lò
sưởi điện nhỏ. Qua vách ngăn mỏng, tôi nghe thấy những tiếng cười bịt miệng,
các bản tường trình nghiêm túc về calo, về vitamin, về liều lượng... cả một
không khí vui vẻ trong suốt buổi họp. Khi có buổi khám bệnh trẻ sơ sinh, chúng
tôi chỉ được phép vào sau buổi khám. Người nữ bác sĩ trẻ đến khám bệnh trông
rất dễ thương, nhưng cô rất nguyên tắc... và sợ kinh khủng bụi tôi gây ra do
những động tác tôi thực hiện trên sân khấu. Về sau, cô còn khẳng định là cho
đến ngày hôm sau bụi vẫn còn đọng trong không khí và nguy hại cho trẻ nhỏ; do
đó cô đòi tôi chỉ được sử dụng sân khấu trước hai mươi bốn giờ trước buổi khám.
Heinrich Behlen cũng bị rắc rối với cha xứ về chuyện đó, ông này hoàn toàn
không biết việc tôi sử dụng gian buồng vào việc luyện tập. Khi ông biết chuyện,
ông bảo Heinrich “không nên đẩy quá xa tình thương đồng loại”. Thỉnh thoảng tôi
cũng đưa Marie đi nhà thờ. Không khí ở đó hết sức dễ chịu, nhất là khi được
ngồi trên ống dẫn khí nóng. Hơn nữa ở đây bao trùm một sự yên ắng hoàn toàn
- tiếng động ngoài đường có vẻ vô cùng xa xôi - và số tín đồ hiếm hoi
(không bao giờ quá bảy hoặc tám người đến cùng một lúc), tạo nên một không khí
rất từ thiện: đôi khi tôi có cảm giác như mình là một bộ phận của cái cử tọa
buồn rầu và lặng lẽ những người sống sót của một thế giới trong đó sự yên tĩnh
đạt tới sự hùng vĩ. Ngoài Marie và tôi ra chỉ có các bà già. Và cách Heinrich
Behlen làm lễ, không có gì là thống thiết, rất hợp với ngôi nhà thờ tối om và
xấu xí này. Một hôm vào cuối buổi lễ, người tu sĩ hầu lễ đi vắng, tôi còn giúp
vào việc chuyển sách kinh từ bên phải sang bên trái bàn thờ. Đúng lúc thấy
Heinrich lúng túng như mất tập trung tư tưởng, tôi vội bước tới phía bên phải
bàn thờ cầm lấy sách kinh đặt nó sang phía bên trái, không quên giữa chừng làm
động tác quỳ gối bắt buộc. Sẽ thật là thô bỉ nếu không cứu giúp bạn bè. Mặt
Marie đỏ lên như quả cà chua còn Heinrich thì mỉm cười. Chúng tôi biết nhau đã
từ lâu, ông ta và tôi. Hơn tôi mấy tuổi, ở nội trú ông làm đội trưởng đội bóng
của chúng tôi. Nhiều khi sau buổi lễ, chúng tôi đứng lại chờ Heinrich ở trước
kho nhà thờ. Sau khi mời chúng tôi cùng dùng buổi điểm tâm nhẹ với ông, ông mua
chịu ở một quán hàng trứng, giăm bông, cà phê và thuốc lá. Khi người ở gái làm
công chỗ ông bị ốm không đến được, ông tỏ ra sung sướng gần như trẻ con.
Tôi nghĩ đến tất cả những
người đã giúp đỡ tôi trong khi gia đình tôi, ngồi chồm hỗm trên hàng đống tiền
triệu điếm nhục, truất quyền thừa kế của tôi và nhấm nháp những lí lẽ đạo đức
đã chi phối quyết định của họ.
Bố tôi, môi mấp máy, tiếp
tục đi đi, lại lại phía sau ghế. Tôi đã chực tuyên bố không nhận tiền của ông,
nhưng kịp thời thay đổi y kiến: dù sao, tôi cũng có quyền chờ đợi ở ông một cái
gì đó, và chỉ có một mác trong túi tôi không thể tự cho phép mình có hành động
anh hùng đến thế để rồi sau này lại sẽ phải hối tiếc. Tôi thật rất cần có tiền,
cần một cách thúc bách là đằng khác, mà ông thì đã không cho tôi đến một xu từ
khi tôi bỏ nhà ra đi. Léo, nó đã cho chúng tôi tất cả tiền túi của nó, Anna về
phần mình thỉnh thoảng vẫn gửi đến chỗ chúng tôi bánh mì trắng do cô làm, và về
sau chính ông tôi cũng gửi tiền cho chúng tôi, bằng những tấm séc gạch chéo
mười lăm và hai mươi mác, một lần - có trời biết tại sao - cả đến hai mươi hai
mác. Những tấm séc đó mỗi lần tới lại gây ra sự ồn ào ở chỗ chúng tôi: bà chủ
nhà không có tài khoản ở ngân hàng, Heinrich cũng thế, ông ta không hiểu gì hơn
chúng tôi về séc gạch chéo. Thế là ông nộp luôn tấm séc gạch chéo đầu tiên vào
quỹ Caritas[95] của
nhà thờ xứ, đến quỹ tiết kiệm hỏi ý nghĩa và mục đích của séc gạch chéo, rồi đi
tìm cha xứ đòi lấy một tấm séc theo người mang tên mười lăm mác; tức giận đến
đỏ mặt khi ông này cho biết là ông ta không thể cấp séc trả tiền cho người xuất
trình giấy tờ mà không ghi rõ lí do dùng nó vào việc gì, tài khoản Caritas là
một chương mục gai góc người ta thường xuyên kiểm tra, và nếu ghi “séc không
xuất cho cha xứ Behlen để đổi lấy một séc gạch chéo tư nhân” thì ông sẽ bị lôi
thôi, bởi vì dù sao, chương mục Caritas cũng không phải để dùng cho việc chuyển
đổi lấy séc gạch chéo “nguồn gốc mờ ám”. Ông ta nói ông chỉ có thể công bố tấm
séc gạch chéo sử dụng vào một mục đích nhất định như một khoản tiền trợ cấp
trực tiếp của Schnier này cho một Schnier khác và đưa cho tôi số tiền tương đương
dưới danh nghĩa một món quà từ thiện.
[95] Quỹ
từ thiện.
Có thể làm được như thế, ông
ta nói thêm, mặc dầu không bình thường lắm. Rút cục, chúng tôi phải đợi mất
mười ngày mới thực tế nhận được mười lăm mác, dĩ nhiên Heinrich còn hàng trăm
nghìn việc khác để làm, không thể bỏ hết thì giờ vào việc đi điều đình cho các
tấm séc gạch chéo của tôi. Từ sau đó, mỗi lần một tấm séc gạch chéo ông tôi gửi
đến, là cả một nỗi kinh hoàng. Loại tiền hoàn toàn quỷ quái, nhất là khi chúng
tôi thực không cần đến nó: phải là tiền mặt hẳn hoi kia! Cuối cùng Heinrich
phải mở một tài khoản ở ngân hàng, như vậy ông ta mới có thể chuyển tới cho tôi
được những tấm séc có thể trả tiền cho người xuất trình giấy tờ lấy những tấm
séc gạch chéo của tôi. Nhưng ông thường đi vắng nhiều ngày và tấm séc nổi tiếng
hai mươi hai mác gửi đến đúng vào lúc ông đi phép ba tuần. Khi đó tôi quyết
định tìm đến người bạn độc nhất hồi thơ ấu của tôi, Edgar Wieneken, một chức
trách thực thụ gì đó ở ban văn hóa của SPD [96] tại Cologne.
[96] Đảng
xã hội dân chủ.
Tôi tìm ra địa chỉ của anh
ta ở danh bạ điện thoại, nhưng tôi không có đến hai groschen để gọi telephon,
tôi đành phải cuốc bộ từ Cologne Ehrenfeld đến Cologne Kalk. Anh ta không có
nhà, vì vậy tôi đứng đợi ở trước cửa nhà anh ta đến tám giờ tối, bà chủ nhà
không đồng ý để tôi vào nhà trong lúc anh ta đi vắng. Cách nơi anh ta ở không
xa lắm là một ngôi nhà thờ lớn và tối om phố Engels (tôi vẫn không hiểu tại sao
là đảng viên SPD anh ta lại cho là mình có thể trú ngụ được ở phố Engels). Tôi
mệt lử, sụn cả lưng, đói, không có lấy một điếu thuốc lá và tôi biết là Marie,
hết sức lo lắng, đương chờ tôi trở về. Vậy mà ở Cologne Kalk, phố Engels và nhà
máy hóa chất ở cạnh đó không có chút gì để an ủi một con người đương khắc khoải
lo âu. Cuối cùng tôi bước vào một cửa hàng bánh mì để hỏi xin một người phụ nữ
đứng sau quầy hàng một chiếc bánh nhỏ. Mặc dù còn trẻ, trông bà ta không có vẻ
dễ dãi. Trước hết tôi đứng chờ ở gần cửa. Đợi lúc cửa hàng không có khách, chạy
bổ vào trong và hỏi người phụ nữ đứng sau quầy hàng, không cả chào bà ta nữa. “Bà
có thể cho tôi xin một chiếc bánh mì nhỏ được không?” Tôi chỉ lo nhỡ có một
khách hàng nào đó bước vào. Người phụ nữ nhìn tôi, miệng bà ta mỏng và cau có,
càng mỏng đi rồi tròn ra và phình lên. Sau đó, không nói gì, bà ta nhét ba
chiếc bánh mì nhỏ và một khoanh bánh xốp vào một túi giấy đưa cho tôi. Tôi cho
là tôi đã cầm lấy cái túi ấy và lủi vội không cả cám ơn bà ta. Tôi ngồi ở bậc
thềm nhà Edgar ngốn mấy chiếc bánh mì và bánh xốp, vẫn nhớ thỉnh thoảng xem lại
tấm séc gạch chéo hai mươi hai mác có còn nguyên ở trong túi tôi không. Hai
mươi hai mác, một số tiền kì cục! Tôi moi óc một cách vô ích để cố hiểu cho ra
ý nghĩa của nó: có thể là số dư của một tài khoản, có thể là một việc đùa chơi
hoặc đơn giản chỉ là do ngẫu nhiên. Cũng lạ lùng, vì số tiền hai mươi hai lại
vừa ghi bằng chữ số vừa ghi bằng chữ viết, chắc là ông nội có ý nghĩ gì đó
trong đầu. Tuy nhiên cho đến bây giờ tôi vẫn không biết là ông tôi đã có ý nghĩ
gì. Sau tôi phát hiện ra là tôi đã chỉ phải đợi Edgar có một tiếng rưỡi đồng
hồ... song là một tiếng rưỡi đồng hồ dài dằng dặc đầy đau khổ: những mặt nhà
tối đen, những cuộn khói của nhà máy hóa chất. Edgar hớn hở sung sướng khi thấy
tôi. Anh ta vỗ vai tôi và kéo tôi vào trong phòng của anh, ở đấy tôi thấy một
bức ảnh lớn của Brecht [97] treo
trên tường, một cây đàn ghi ta và cả một dãy sách bỏ túi xếp trên một chiếc giá
do anh tự tạo. Anh rời tôi một lúc - tôi nghe thấy anh thóa mạ bà chủ nhà vì đã
không để tôi vào nhà - rồi trở lại với một chai rượu và hớn hở, đầy hưng
phấn, kể tôi nghe về việc anh vừa giành được thắng lợi ở ủy ban sân khấu đối
với việc chống lại “bọn đểu cáng CDU [98]”.
[97] Brecht
(1898-1956): nhà hoạt động sân khấu Đức nổi tiếng thế giới, nhà thơ, nhà lí
luận, nhà viết truyện, trước hết được coi là người sáng lập nền sân khấu tự sự
biện chứng. Thơ ca của B, rất độc đáo, mang tính dângian, tính dân tộc và tính
trí tuệ. Với vở Ca kịch ba xu, (1928), B. nổi danh khắp Âu châu. B. trước hết
được coi là người sáng lập nền sân khấu tự sự biện chứng.
[98] Liên
minh dân chủ Cơ Đốc giáo.
Cuối cùng anh yêu cầu tôi
cho anh biết về cuộc sống của tôi từ sau lần chót gặp nhau. Chúng tôi cặp kè
với nhau nhiều năm hồi bé. Bố anh, huấn luyện viên bơi lội, trở thành người coi
sân vận động gần nơi chúng tôi ở. Tôi muốn anh miễn cho tôi chuyện đã qua, rồi
trình bày ngắn gọn với anh hoàn cảnh của chúng tôi và yêu cầu anh tìm cách
thanh toán bằng tiền tấm séc của tôi. Anh hết sức tử tế, đầy thông cảm, đưa
ngay cho tôi ba mươi mác tiền mặt, còn muốn từ chối nhận tấm séc mặc dầu tôi đã
nằn nì yêu cầu anh cầm lấy nó. Tôi cho là tôi đã phải năn nỉ gần như phát khóc.
Cuối cùng anh nhận tấm séc, tuy có hơi phật ý, rồi tôi mời anh hôm nào đó đến
thăm chúng tôi để xem tôi tập. Anh tiễn chân tôi đến tận chỗ xe điện đỗ, trước
nhà bưu điện phố Kalk. Tôi chợt thấy một chiếc xe taxi còn trống đỗ lại. Tôi
chạy vội đến, nhảy lên xe và chỉ còn thoáng thấy bộ mặt nhợt nhạt, bực tức và
sửng sốt của người bạn Edgar của tôi. Đây là lần thứ nhất tôi tự cho phép mình
đi taxi, và nếu bao giờ có ai thật xứng đáng được hưởng điều này chiều hôm ấy
thì đó chính là tôi. Tôi không còn có thể chịu đựng được việc phải kéo lên bằng
xe điện qua suốt Cologne để sau một tiếng đồng hồ nữa mới được gặp lại
Marie. Chuyến xe lấy đi của tôi tám mác, thêm năm mươi pfennig thù lao lái xe.
Tôi nhảy bốn bậc một lên gác nhà trọ. Marie nhảy lên ôm lấy cổ tôi khóc, và tôi
cũng khóc với em. Chúng tôi đều lo lắng, đều thấy như đã vắng nhau cả một thời
gian dài, quá tuyệt vọng, ôm hôn nhau chúng tôi chỉ có thủ thỉ với nhau là sẽ
không bao giờ nữa, không bao giờ nữa xa rời nhau, “cho đến khi nào cái chết
chia lìa chúng ta”, Marie nói thêm. Rồi em “trang điểm công phu” như em nói,
đánh phấn, tô môi và chúng tôi đến một quán rượu phố Venloerstrasse ăn mỗi
người hai suất gulat [99].
Tiếp theo chúng tôi còn mua một chai vang đỏ và trở về nhà trọ.
[99] Gulat
(goulasch): món thịt bò theo kiểu Italia.
Edgar không bao giờ hoàn
toàn tha thứ cho tôi về việc tôi trở về bằng xe taxi khi ấy. Về sau chúng tôi
thường hay gặp lại nhau; anh ta còn giúp đỡ chúng tôi tiền nong một lần nữa khi
Marie bị sẩy thai. Tất nhiên anh không nhắc đến chuyện xe taxi, nhưng sự ngờ
vực của anh đối với tôi cho đến ngày nay vẫn chưa hoàn toàn tiêu tan.
Trời ơi, bố tôi rên rỉ với
một giọng tôi chưa hề thấy ở ông, con nói to và rõ ràng hơn được không và mở
mắt ra chứ! Ba không còn bị mắc lợm với cái trò khỉ của con nữa đâu!
Tôi mở mắt ra: Ông có vẻ
không bằng lòng.
- Con đã nói gì nhỉ?
- Con không ngớt lẩm bẩm;
nhưng trong những tiếng khó hiểu đó, ba chỉ có thể hiểu được một điều ấy là: “những
đồng tiền triệu điếm nhục”.
- Đấy cũng là điều ba có thể
và cần phải hiểu ra.
- Ba cũng hiểu: tấm séc gạch
chéo, - ông nói thêm.
- Vâng, vâng... ba lại đây
đi, ba ngồi xuống và nói con biết ba định trợ cấp cho con bao nhiêu mỗi tháng?
Tôi đến bên ông, nắm nhẹ vào
vai ông đặt ông ngồi xuống, nhưng ông lại đứng ngay lên. Chúng tôi mặt đối mặt
cách nhau chừng vài xentimet.
- Ba đã cân nhắc vấn đề trên
nhiều khía cạnh, - ông nói dịu dàng. - Nếu con khước từ yêu cầu của ba không
chịu theo một lớp đào tạo vững vàng, và có kiểm tra, mà lại muốn làm việc ở
nhà... ba cho rằng... vậy thì hai trăm mác cho con là đủ.
Tôi tin chắc là ông đã định
nói hai trăm năm mươi hoặc ba trăm, nhưng vào phút cuối cùng ông đã nghĩ lại.
Tuy nhiên vẻ mặt của tôi đã làm ông hốt hoảng vì ông nói tiếp giọng thô bạo
không ăn nhập chút nào với dáng vẻ thanh lịch của ông:
- Genneholm coi sự tu luyện
khổ hạnh là nền tảng ngay cả của nghệ thuật kịch câm.
Tôi giữ im lặng, chỉ nhìn
ông với “đôi mắt trống rỗng” như một con rối của Kleist. Tôi còn không cả nổi
nóng mà chỉ kinh ngạc. Sự kinh ngạc làm cho bộ mặt của tôi trở lại với cái vẻ
tự nhiên mà tôi đã phải mất rất nhiều công phu mới có thể đạt được: với cái
nhìn trống rỗng. Bố tôi bị kích động, mồ hôi toát ra thành giọt lấm chấm ở môi
trên của ông. Vậy mà tôi vẫn không thấy tức giận, không oán hận, không đắng
cay: đôi mắt trống rỗng của tôi dần dần tràn ngập sự thương cảm.
Ba thân yêu, tôi nói thì
thầm, hai trăm mác không ít như ba nghĩ đâu, đấy còn là một món tiền lớn nữa.
Con không muốn tranh cãi với ba, nhưng ba biết không, sự tu luyện khổ hạnh là
một trò tốn kém, cái mà Genneholm ít muốn dựa vào nhất? Thực ra, nói tu luyện
khổ hạnh là ông ta muốn nói đến chế độ ăn uống ít thịt và rau... Còn hình thức
tu luyện khổ hạnh ít tốn kém là nhịn đói, nhưng một diễn viên hài đói... thực
ra vẫn tốt hơn là một diễn viên say rượu.
Tôi lùi lại một chút để khỏi
nhìn thấy những giọt mồ hôi dày đặc lên ở môi trên của ông, cảnh tượng ấy làm
tôi đau lòng.
- Ba nghe con, - tôi nói
tiếp, - chúng ta hãy xử sự như những “gentlemen” [100] thực
sự và thôi nói chuyện về tiền nong.
[100] Con
người hào hoa.
- Nhưng ba thực sự muốn giúp
đỡ con mà! - Ông kêu lên tuyệt vọng. - Ba sẵn sàng bỏ ra đến ba trăm mác!
- Con không muốn nói chuyện
về tiền nữa. Con chỉ đơn giản muốn tiết lộ với ba một kinh nghiệm lạ lùng nhất
đối với con, kinh nghiệm mà con đã trải qua hồi nhỏ.
- A! Như thế nào? - Ông hỏi
và nhìn tôi như thể ông ngờ là tôi sắp sửa tuyên bố án tử hình ông. Chắc ông
cho là tôi sẽ nói với ông về người tình của ông, vì bà ta mà ông đã cho xây một
biệt thự ở Godesberg.
- Ba hãy bình tĩnh, bình
tĩnh, - tôi nói. - Đây là sự bất ngờ đối với ba... Kinh nghiệm lạ lùng nhất hồi
nhỏ của chúng con, là ở nhà ta chúng con không bao giờ được người ta cho ngốn
tạm đủ.
Từ “ngốn” làm ông giật nảy
lên. Ông nuốt nước bọt rồi hỏi, với cái cười hơi ngượng nghịu:
- Con muốn nói là các con
không bao giờ được ăn no?
- Đúng thế, - tôi bình tĩnh
nói, - chúng con không bao giờ được ăn no, ít ra là ở nhà ta. Cho đến bây giờ
con vẫn còn chưa biết đó là do hà tiện hay đó là vấn đề nguyên tắc. Con cho là
do hà tiện thì đúng hơn... Nhưng thật ra ba có biết một đứa trẻ cảm thấy như
thế nào sau cả một buổi chiều phóng xe đạp, đá bóng hoặc bơi lội dưới sông
Rhin?
- Thèm ăn, tất nhiên, - ông
đập lại.
- Không, nó thấy đói bụng...
Mẹ kiếp! Khi chúng con còn bé. Chúng con đã biết là nhà ta giàu, rất giàu nữa,
nhưng sự giàu có đó ích lợi gì cho chúng con đâu, cho đến cả việc muốn được ăn
uống tử tế.
- Các con có thiếu thốn gì
bao giờ đâu?
- Có đấy, con đã nói rồi, thức
ăn và cả tiền bỏ túi nữa. Ba có biết thứ gì, khi còn bé, con luôn luôn thèm
được ăn không?
- Trời ơi, - ông kêu lên vẻ
kinh hoàng, - con thèm ăn gì?
- Khoai tây! Nhưng thời kì
đó mẹ sợ người béo ra. Ba biết là mẹ bao giờ cũng đi trước thời đại của mẹ, và
ở nhà ta lúc nhúc những bọn ngu xuẩn, mỗi tên có một lí luận riêng về vệ sinh
ăn uống. Khốn thay không một thứ lí luận nào trong đó khoai tây lại có được vai
trò tích cực. Thỉnh thoảng khi bố mẹ đi khỏi nhà, các gia nhân vẫn nấu khoai
tây: khoai tây nấu cả vỏ với bơ, muối và hành. Đôi khi, ban đêm họ còn đánh
thức chúng con dậy và với điều kiện là phải tuyệt đối giữ miệng, chúng con được
phép mặc quần áo ngủ đi xuống nhà bếp, ở đấy chúng con tha hồ tọng khoai tây.
Hầu hết các ngày thứ sáu, chúng con đến nhà Wieneken, ở đấy bao giờ cũng có xà
lách trộn khoai tây, và bà Wieneken chất đầy vào đĩa cho chúng con. Thật là
tuyệt... và nữa, ở nhà ta, giỏ bánh mì không bao giờ có đủ bánh. Thật là tệ
hại: chỉ có vài lát bánh mì đã để se lại “vì lí do vệ sinh”. Còn ở nhà Wieneken
và khi Edgar đi lấy bánh mì về, mẹ cậu ta tay trái lập tức ôm ngay ổ bánh mì
vào ngực, còn tay phải cắt bật ra từng khoanh, bột mới tinh, chúng con bắt lấy
và phết nước khoai tây nấu sệt vào ăn thoải mái.
Bố tôi lắc đầu chán nản. Tôi
đưa ông bao thuốc lá, ông rút ra một điếu và tôi châm lửa cho ông, ông làm tôi
thương hại. Là một người bố, hẳn ông rất đau lòng lần đầu tiên phải nói chuyện
một cách nghiêm túc với đứa con trai sắp đủ tuổi hai mươi tám.