Thanh gươm huyền bí (Quyển 1) - Chương 2 phần 1
Chương 2: Giữa những phù thủy
Phù thủy Serafina Pekkala đang gặp rắc rối lớn. Bà đã từng cứu Lyra và
những đứa trẻ khác ra khỏi khu thực nghiệm ở Bolvangar và đã cùng cô bé bay tới
Svalbard.
Trong cơn nhiễu loạn tầng khí quyển tiếp theo sau cuộc đào tẩu khỏi án
lưu đày ở Svalbard của Ngài Asriel, bà cùng những người bạn mình đã bị thổi bay
xa khỏi hòn đảo hàng dặm trên biển băng. Một vài người trong số họ đã cố ở lại
cùng chiếc khí cầu đã bị hư hại của ông Lee Scoresby, người lái khí cầu ở
Texas, nhưng chính Serafinaăng từ trên cao xuống đám sương mù, ngay sau đó, đám
sương này cuộn lại từ lỗ hổng mà cuộc thí nghiệm của Ngài Asriel tạo nên khi xé
rách bầu trời.
Ngay khi thấy mình có thể điều khiển được đường bay, việc đầu tiên bà
nghĩ tới là Lyra; vì cô bé đâu có biết chút gì về cuộc chiến giữa gã vua gấu
giả mạo với vị vua thật sự, Iorek Byrnison, cũng như không biết những điều sẽ
xảy ra cho mình sau đó.
Bà bắt đầu tìm kiếm cô bé. Cưỡi trên nhánh thông mây của mình, bà bay qua
bầu trời đầy mây màu vàng nhạt. Đồng hành với bà lúc này là con nhân tinh ngỗng
trắng Kaisa. Họ quay trở về hướng đi Svalbard chếch về phía Nam một chút, lượn
vòng vài giờ dưới bầu trời đang thay đổi bất thường do những ánh sáng và bóng
dáng lạ lùng. Từ cảm giác râm ran bất ổn trên da, Serafina Pekkala biết được
rằng nó đến từ một thế giới khác.
Sau một lúc, Kaisa nói, “Nhìn kìa! Một nhân tinh của phù thủy, bị lạc
đường…”
Serafina Pekkala nhìn xuyên qua lớp sương mù và thấy một con én biển đang
lượn tròn và kêu la trong những lỗ hổng của ánh sáng mù mờ. Họ liền vòng lại,
bay phía trước con nhân tinh. Khi nhìn thấy họ lại gần, nó bay vụt lên đầy cảnh
giác, nhưng khi Serafina Pekkala ra dấu hiệu giúp đỡ, nó mới thả mình xuống
cạnh họ.
Serafina hỏi: “Ngươi ở thị tộc nào tới vậy?”
“Taymyr,” nó trả lời. “Phù thủy của tôi bị bắt… Những người đi cùng đã
rời khỏi đây. Tôi bị lạc…”
“Ai đã bắt phù thủy của nhà ngươi?”
“Người đàn bà có con nhân tinh khỉ từ Bolvangar… Làm ơn hãy giúp tôi!
Giúp chúng tôi! Tôi sợ quá!”
“Thị tộc của nhà ngươi có liên minh với bọn cắt nhân tinh trẻ con phải
không?”
“Phải, cho đến khi chúng tôi biết được về điều bọn chúng đang làm. Sau
trận chiến ở Bolvangar, chúng đánh đuổi chúng tôi đi, nhưng còn phù thủy của
tôi lại bị bắt giữ làm tù binh… Chúng nhốt cô ấy ở trên chiếc tàu… Tôi phải làm
gì bây giờ? Cô ấy đang gọi tôi, nhưng tôi không thể tìm thấy cô ấy! Ôi, hãy
giúp tôi, giúp tôi với!”
“Yên lặng nào,” nhân tinh ngỗng Kaisa lên tiếng. “Hãy nghe ở dưới kia.”
Họ cùng lượn xuống thấp hơn, tai dỏng lên, Serafina nhanh chóng nhận ra
nhịp điệu của động cơ gas, bị đám sương làm cho nghẹt tiếng.
“Họ không thể nào định vị được một con tàu trong đám sương mù như thế
này,” Kaisa nói. “Không biết họ đang làm gì nhỉ?”
“Động cơ này nhỏ hơn của chúng,” Serafina Pekkala nói, ngay khi vừa dứt
lời, một tiếng động mới từ một hướng khác phát ra. Một tiếng vang trầm đục, ghê
rợn đến rùng mình, giống như sinh vật biển khổng lồ nào đó đang kêu gào sâu
thẳm bên dưới. Nó rống lên một vài giây rồi đột ngột ngừng hẳn.
“Còi hiệu báo sương mù của tàu,” Serafina Pekkala nói.
Họ lượn xuống thấp hơn, chỉ cao hơn mặt nước một chút và tìm kiếm lại
tiếng động cơ một lần nữa. Đột nhiên họ phát hiện ra nó, nhờ việc sương mù
dường như chia thành những mảng có mật độ khác nhau, và Serafina vọt lên khỏi
tầm nhìn đúng lúc chiếc thuyền chầm chậm nổ bình bịch đi qua những dài băng của
bầu khí quyển ẩm thấp. Chiếc tàu chậm chạp và trơn tuột như thể nước đang dâng
lên.
Họ bay vòng rồi lại lên cao, con nhân tinh én biển cứ bay gần sát như là
con gần mẹ vậy, nó quan sát người lái tàu đang điều chỉnh lộ trình khi cái còi
báo hiệu nổ bom lần nữa. Một ngọn đèn thắp lên trên mũi tàu, nhưng toàn bộ
những gì chiếu rọi được là đám sương cách vài thước đằng trước.
Serafina nói với con nhân tinh bị lạc, “Ngươi đã nói rằng vẫn còn một vài
phù thủy giúp đỡ những người này phải không?”
“Tôi nghĩ vậy - vài kẻ phản bội từ Volgorsk, trừ khi họ cũng đã bay mất,”
nó nói với bà. “Bà sẽ làm gì? Bà sẽ tìm kiếm phù thủy của tôi chứ?”
“Có. Nhưng bây giờ nhà ngươi hãy ở lại đây với Kaisa nhé.”
Để nhân tinh ở phía trên ngoài khỏi tầm nhìn, Serafina bay về phía chiếc
tàu, đáp lên thành đuôi ngay phía sau người cầm lái. Nghe tiếng con nhân tinh
mòng biển của mình kêu quang quác, người lái tàu quay ra nhìn.
“Mày rảnh quá ha? Dậy bay ra đằng trước và dẫn đường cho bọn tao cập cảng
mau.”
Ngay tức thì Serafina lại cất cánh. Nó đã thành công: vẫn còn một vài phù
thủy đang giúp họ, và người lái tàu cũng nghĩ bà là một trong số đó. Bà vẫn nhớ
bến cảng ở phía bên trái, và ánh đèn ở đó màu đỏ. Bà tìm kiếm trong đám sương
mù cho đến khi bắt gặp tia sáng lờ mờ cách đó không đầy một trăm dặm. Bà liền
lao ngược lại, bay xuống phía cuối tàu để gọi trực tiếp người lái tàu. Ông ta
đang lái tàu chậm dần để vòng qua. Cái thang dây được treo ngay phía trên dòng
nước. Người lái tàu gọi, thế là thủy thủ ném một sợi dây xuống, một người khác vội
xuống thang để buộc nó chặt vào tàu.
Serafina Pekkala bay lên phía tay vịn lan can của tàu, rút về phía đằng
sau bóng tối của xuồng cứu nạn. Bà không thấy bóng dáng những phù thủy khác,
nhưng có lẽ là họ đang đi tuần tra ở trên trời; Kaisa sẽ biết phải làm gì.
Phía dưới, một hành khách đang rời tàu và trèo lên thang. Nhân vật này
khoác trên người bộ lông thú, mũ trùm đầu bí ẩn. Nhưng khi tàu cập cảng, một
con nhân tinh khỉ vàng hơi nhún nhảy trên lan can và nhìn ngó xung quanh đôi
mắt đen của nó trông thật ác. Serafina nín thở: chính là bà Coulter.
Một gã đàn ông trang phục sẫm màu vội vàng ra khỏi boong để chào bà ta,
đồng thời nhìn xung quanh như thể cũng đang mong một ai đó khác.
“Ngài Boreal...” ông ta bắt đầu.
Nhưng bà Coulter ngắn lời gã ngay: “Ông ta đã đi nơi khác rồi. Thế bọn
chúng đã bắt đầu cuộc tra tấn chưa?”
“Rồi, thưa bà Coulter,” gã trả lời, “nhưng…”
“Ta đã lệnh cho bọn chúng phải đợi,” bà Coulter cướp lời. “Bọn chúng dám
không tuân lệnh ta à? Con tàu này cần phải quy củ hơn nữa.”
Bà ta bỏ mũ xuống. Trong ánh sáng vàng, Serafina nhìn thấy khuôn mặt của
bà ta thật rõ ràng: kiêu căng, dễ nổi cáu, và đối với phù thủy, vẫn còn quá trẻ
tuổi.
“Thế những đứa phù thủy khác đâu rồi?”
“Chúng đi hết rồi, thưa bà. Bay về quê hương của bọn chúng.”
“Nhưng có một phù thủy hướng dẫn con tàu vào,” bà Coulter hỏi, “con phù
thủy đó đã lặn đâu mất?”
Serafina lùi lại, hiển nhiên là thủy thủ trên tàu không biết được tình
hình mới nhất. Gã mục sư nhìn quanh, hoang mang, nhưng bà Coulter quá mất bình
tĩnh. Bà ta lắc đầu, vội vàng cùng nhân tinh của mình đi qua cánh cửa mở đang
chiếu sáng cả một khoảng không. Gã đàn ông theo sau.
Serafina nhìn quanh để kiểm ta vị trí của mình. Bà đang giấu mình sau bộ
thông gió trong khu vực chật hẹp trên boong tàu nằm giữa lan can và khu vực
trung tâm của tàu; và ở tầng này, đối diện đằng trước bên dưới đài chỉ huy của
thuyền trưởng và ống khói, là một phòng khách lớn, nơi mà từ cửa sổ, không phải
lỗ cửa sổ thành tàu, có thể nhìn được ba phía. Đó là chỗ mọi người đã vào. Ánh
sáng tràn dày đặc từ ô cửa sổ vào rào chắn có màu ngọc trai đục, soi sáng lờ mờ
cột buồm phía trước và cả cửa hầm chứa hàng bằng vải bạt. Mọi thứ đã ướt sũng
và bắt đầu đóng băng thành cứng đơ. Không ai có thể thấy được Serafina ở chỗ
này; nhưng nếu muốn quan sát thêm, bà sẽ phải ra khỏi nơi ẩn náu.
Thật quá tệ. Bà có thể trốn thoát bằng nhánh thông của mình và cũng có
thể chiến đấu bằng con dao và cái cung. Bà giấu nhánh cây vào đằng sau bộ thông
gió rồi men dọc theo boong tàu cho đến khi nhìn thấy chiếc cửa sổ đầu tiên.
Sương mù đậm đặc khó thể mà nhìn qua, và Serafina cũng chẳng nghe thấy một
tiếng động nào. Bà lại thu mình vào bóng tối.
Có một việc bà có thể làm; nhưng hơi miễn cưỡng vì việc đó rõ ràng rất
nguy hiểm, nó có thể làm bà bị kiệt sức; nhưng dường như chẳng còn lựa chọn nào
cả. Đó là một phép thuật bà có thể tạo ra để làm cho mình không bị phát hiện.
Dĩ nhiên là không thể nào mà vô hình hoàn toàn được; đó chỉ là một phép thuật
tinh thần, nó có sức mạnh vừa đủ để người đọc thần chú không bị để ý chứ không
phải là vô hình. Nếu giữ được phép thuật này với cường độ chính xác thì bà có
thể đi qua một phòng đông người hay là đi bộ ngay bên cạnh một đoàn khách bộ
hành mà không hề bị nhìn thấy.
Vì vậy, bà tự nhẩm câu thần chú, dùng hết sức tập trung vào vấn đề biến
đổi để hoàn toàn làm chệch sự chú ý của người khác. Cũng phải mất vài phút bà
mới tập trung được. Bà thử phép thuật bằng cách bước ra khỏi nơi ẩn nấp, đứng ở
chỗ một thủy thủ trên tàu đang tới mang theo một túi đồ. Người này đi tránh
sang một phía mà không hề nhìn bà lấy một lần.
Bà đã sẵn sàng. Bà đi tới cánh cửa của căn phòng hạng nhất sáng choang
rồi mở cửa ra, phát hiện ra nó rỗng. Bà để cánh cửa ngoài hé mở để có thể chạy
trốn khi cần thiết, rồi bà nhìn thấy có một cánh cửa từ phía đằng xa dẫn xuống
cầu thang đi vào lòng tàu. Bà đi xuống, thấy mình đang ở trên một hành lang hẹp
đeo đầy những ống dẫn khí sơn màu trắng được soi sáng bằng ánh sáng ở vách
ngăn. Ánh sáng này chiếu sáng khắp chiều dài vỏ tàu, cánh cửa ở đây mở ra hai
phía.
Bà đi dọc theo hành lang, nghe ngóng cho tới khi có tiếng động. Nghe như
thể một loại hội đồng nào đó đang họp.
Bà mở cửa bước vào.
Có khoảng một tá người đang ngồi quanh chiếc bàn lớn. Một hai người nhìn
lên phía bà nhưng ngay sau đó họ quên ngay. Bà đứng gần cửa sổ và quan sát. Chủ
tọa cuộc họp này do một ông lão trong bộ áo choàng đỏ thắm, những người còn lại
là mục sư và một người phụ nữ duy nhất hiện diện trong phòng chính là bà
Coulter. Lúc này, bà ta đã bỏ áo choàng trên ghế, má bà ta ửng hồng lên do sức
nóng của thân tàu.
Serafina cẩn thận nhìn quanh, bà nhìn thấy một người khác nữa ở trong
phòng: một người đàn ông có khuôn mặt mỏng cùng con nhân tinh ếch, đang ngồi ở
một bên bàn với những cuốn sách bọc bìa da và mấy chồng báo ố vàng. Lúc đầu, bà
nghĩ ông ta có lẽ là thư kí hay văn thư cho đến khi bà nhìn thấy việc ông ta
đang làm. Ông ta nhìn chăm chú vào một dụng cụ bằng vàng giống như một chiếc
đồng hồ hay là la bàn gì đó, cứ mỗi phút ông ta lại dừng lại viết ra những gì
tìm thấy. Rồi ông ta lại mở một cuốn sách ra, chăm chú nhìn vào phần chỉ dẫn và
sách tham khảo trước khi quay trở lại với dụng cụ.
Serafina hướng lại cuộc thảo luận khi nghe thấy nhắc tới từ phù
thủy.
“Cô ta biết điều gì đó về đứa trẻ,” một mục sư nói. “Cô ta thú nhận như
vậy. Tất cả bọn phù thủy biết điều gì đó về con bé.”
“Tôi đang tự hỏi là bà Coulter biết được những gì?” Giáo hoàng nói. “Liệu
có điều gì đó mà bà nên trước đây?”
“Ông sẽ cần phải nói rõ ràng hơn thế,” Coulter lạnh lùng nói. “Ông chớ
quên tôi là một phụ nữ, thưa Đức giáo chủ, cho nên đừng có quá tinh tế như là
một Đức Chúa vậy. Giờ thì có sự thật nào tôi nên biết về đứa bé đây?”
Câu nói của Giáo chủ chứa đựng rất nhiều ý nghĩ nhưng rồi ông lại lặng
thinh. Họ im lặng một lúc, rồi một mục sư khác nói với vẻ hầu như là biện bạch.
“Dường như có một lời tiên tri. Bà thấy đấy, bà Coulter, nó liên quan đến
đứa trẻ. Tất cả các dấu hiện đã đầy đủ. Bắt đầu là từ hoàn cảnh khi con bé được
sinh ra. Bọn người Gypsy cũng biết gì đó về con bé - chúng nói về con bé bằng
những biệt hiệu như là máu dầu phù thủy và ma trơi, quả thật kỳ lạ, bà thấy đấy
- do đó con bé đã thành công trong việc dẫn những người Gypsy tới Bolvangar. Và
còn kỳ công phế truất vua gấu Iofur Raknison đáng kinh ngạc nữa… đây không thể
là một đứa trẻ bình thường. Có lẽ Fra Pavel có thể nói nhiều hơn cho chúng ta
biết…”
Ông ta liếc người đàn ông đang đọc chiếc Chân - kế. Fra chớp mắt, xoa xoa
hai con người rồi nhìn bà Coulter.
“Bà có thể nhận thấy rằng đây là chiếc Chân - kế duy nhất còn sót lại,
một cái khác con bé đã giữ. Tất cả những cái khác đều bị giành giật và bị phá
hủy theo lệnh Tổng giáo giám mục. Dụng cụ này cho tôi biết được rằng hiệu
trưởng trường Jordan đã trao nó cho con bé và nó đã tự học cách đọc Chân - kế
mà không cần sử dụng sách tra. Nếu mà có thể hoài nghi chiếc Chân - kế, tôi sẽ
làm ngay, vì việc sử dụng món đồ này mà không có sách đơn giản là bất khả dĩ
đối với tôi. Phải mất đến hàng thập kỉ miệt mài nghiên cứu để khám phá ra tất
cả những kiến thức. Vậy mà chỉ trong một tuần có được Chân - kế, nó đã đọc
được. Bây giờ, nó gần như đã điều khiển được. Con bé này khống bất cứ một Học
giả con người nào mà tôi có thể hình dung.”
“Thế con bé ở đâu rồi, Fra Pavel?” Giáo hoàng hỏi.
“Ở một thế giới khác,” Fra Pavel nói. “Muộn mất rồi.”
“Ả phù thủy biết đấy!” một gã khác nói. Con nhân tinh chuột xạ của gã
đang gặm lấy gặm để cây bút chì. “Tất cả đều đã đủ ngoại trừ lời chứng thực của
phù thủy! Tôi có ý kiến là chúng ta nên tra tấn ả một lần nữa!”
“Điều tiên tri đó nói gì?” Coulter vô cùng giận dữ yêu cầu. “Sao các
ngươi dám giấu ta?” Rõ ràng là quyền lực của Coulter mạnh hơn họ. Con khỉ vàng
nhìn trừng trừng quanh bàn họp, không một ai dám nhìn vào mặt nó.
Chỉ có mỗi giáo chủ là không ngán. Nhân tinh của ông ta, một con vẹt đuôi
dài, nhấc một chân lên gãi đầu.
“Bọn phù thủy có ám chỉ thứ gì đó khác thường,” ông ta nói. “Tôi không
dám tin điều tôi nghĩ về nó. Nếu nó thành sự thực, nó đã đặt chúng ta vào một
trọng trách vô cùng to lớn mà bất cứ người nào, bất kể đàn ông hay đàn bà cũng
có thể phải đối mặt. Nhưng cho tôi hỏi lại một lần nữa, bà Coulter, bà biết
gì về đứa trẻ và cha nó.”
Mặt bà Coulter trắng bệch vì giận dữ.
“Ngài dám tra khảo tôi sao?” Coulter phun ra. “Làm thế nào các ông lại
dám giấu ta những điều các ông biết từ bọn phù thủy? Cuối cùng, sao các ông dám
kết luận là ta đã giấu các ông điều gì? Các ông nghĩ là ta đứng về phía con bé
à? Hay là các ông nghĩ ta đứng về phía cha của nó? Chắc các ông nghĩ rằng ta
nên bị tra tấn như bọn phù thủy phải không? Được thôi, bọn ta đang ở trong tay
ông mà, thưa Giáo hoàng, ông chỉ việc búng ngón tay của mình là ta tan xác thôi
mà. Nhưng nếu ông tra tấn ta để có câu hỏi thì ông sẽ không có một chút xíu nào
đâu bởi vì chẳng biết tí gì về lời tiên tri, bất kể điều gì. Ta yêu cầu các ông
cho ta biết những điều mà các ông biết. Con của ta, đứa con của chính ta đã
được thụ thai và sinh ra trong tủi hổ, nhưng dù sao thì vẫn là con ta, và các
ông đã giấu ta điều mà ta có quyền được biết!”
“Làm ơn,” một mục sư khác lo lắng lên tiếng, “bà Coulter, làm ơn, đứa phù
thủy vẫn chưa nói tiếng nào mà; rồi ta sẽ biết được nhiều hơn từ bà ta. Bản
thân Giáo hoàng Sturrock cũng chỉ nói rằng bà ta chỉ nói bóng gió về điều đó.”
“Ngươi cho rằng bọn phù thủy chưa khám phá ra điều đó?” Coulter nói. “Cái
gì sau đó nữa? Chúng ta ước chừng, phải không? Chúng ta run rẩy, nao núng và
đoán mò?”
Fra Pavel nói: “Không, bởi đó là câu hỏi mà tôi chuẩn bị đặt ra với Chân
- kế. Chúng ta sẽ thấy câu trả lời hoặc là từ bọn phù thủy hoặc là từ những
quyển sách chỉ dẫn.”
“Thế sẽ mất bao lâu?”
Ông ta nhướn mày một cách mệt mỏi và nói, “Sẽ mất khá nhiều thời gian
đấy. Đó là một câu hỏi hết sức phức tạp.”
“Nhưng đứa phù thủy có thể cho chúng ta biết ngay tức thì,” bà Coulter
nói.
Rồi bà ta đứng nhỏm dậy, hầu hết mọi người cũng đứng dậy như thể họ rất
sợ bà ta. Serafina Pekkala lùi lại, cố gắng hết sức để giữ cho mình không bị
phát hiện. Con khỉ vàng nghiến răng ken két, bộ lông vàng nhạt của nó dựng cả
lên.
Coulter bế nó trên vai. “Hãy để chúng tôi đi và hỏi cô ta,” bà nói.
Bà ta quay lưng bước ra phía hành lang. Những người đàn ông còn lại trong
phòng vội vàng chen lấn, xô đẩy cả Serafina để đi theo bà ta. Lúc này Serafina
Pekkala chỉ có đủ thời gian để đứng tránh sang một bên thật nhanh, tâm trí bà
hơi bấn loạn. Giáo chủ là người rời đi sau cùng.
Phải mất mấy giây Serafina mới trấn tĩnh lại được, do sự xúc động đang
bắt đầu khiến bà bị lộ diện. Bà đi theo những mục sư xuống hành lang vào một
căn phòng nhỏ hơn, màu trắng, trống trơn và nóng nực. Tất cả họ tụm lại xung
quanh một người sắp chết ở chính giữa: một phù thủy bị trói chặt trên ghế thép,
mặt cô tái xám lại vì đau và chân bị gẫy xoắn lại.
Coulter bước qua người cô. Serafina chọn một chỗ đứng gần cửa ra vào bởi
bà biết mình sẽ không thể vô hình được lâu; điều đó là quá sức.
“Phù thủy, hãy cho ta biết về đứa trẻ,” Coulter nói.
“Không!”
“Ngươi sẽ phải gánh chịu đau đớn.”
“Ta đã chịu đủ rồi.”
“Ồ, sẽ còn có nhiều thử thách hơn với ngươi đấy. Chúng ta có hàng ngàn
năm kinh nghiệm trong Nhà thờ của chúng ta. Bọn ta có thể kéo dài sự chịu đựng
của ngươi tới vô tận. Hãy nói cho bọn ta về đứa trẻ.” Coulter cúi xuống bẻ một
ngón tay của cô. Ngón tay dễ dàng gẫy ra.
Serafina kêu lên và trong hẳn một giây Serafina hiện nguyên hình, có một
hoặc hai mục sư đã nhìn thấy, bối rối và hoảng sợ. Nhưng ngay sau đó, bà đã tự
khống chế bản thân và những mục sư lại trở về với màn tra tấn của chúng.
Coulter nói: “Nếu ngươi không trả lời câu hỏi, ta sẽ bẻ các ngón tay khác
của ngươi, hết ngón này lại đến ngón khác. Ngươi biết gì về đứa trẻ? Nói cho ta
biết.”
“Được rồi! Làm ơn, làm ơn đừng tra tấn nữa!”
“Trả lời ngay.”
Lại một tiếng tanh tách nho nhỏ nữa phát ra, lần này, cô phù thủy tuôn ra
một tràng những tiếng thổn thức. Serafina hầu như không thể kiềm chế được mình.
Rồi những âm thanh rên rỉ phát ra: “Đừng, đừng! Tôi sẽ nói cho các người. Tôi
cầu xin các người đấy, đừng tra tấn nữa! Đứa trẻ đã đến… những phù thủy đã biết
cô bé ấy là ai trước khi các người biết… Chúng ta đã tìm ra tên của cô bé…”
“Bọn ta biết tên của nó. Ý ngươi định nói tên nào?”
“Tên thật của cô bé, tên định mệnh!”
“Thế tên nó là gì, hãy nói cho ta biết.” Coulter nói.
“Không… Không…”
“Làm cách nào, làm cách nào các ngươi tìm ra?”
“Đã có một bài kiểm tra… nếu cô bé có thể phân biệt một cành thông mây
trong vô vàn những cành khác, cô bé sẽ là người đó, việc này xảy ra ở tòa nhà
lãnh sự của chúng tôi ở Trollesund, đứa bé đã đi cùng những người Gypsy… Đứa bé
với con gấu...”
Giọng nói đột ngột tắt lịm.
Coulter không kiên nhẫn nỗi nữa. Bà ta tát cô thật mạnh rồi gầm gừ.
“Nhưng lời tiên tri của các ngươi về đứa trẻ là gì?” giọng bà ta đanh lại,
vang lên giận dữ. “Và cả cái tên làm sáng tỏ định mệnh của nó nữa?”
Serafina lại gần hơn, thậm chí vào giữa đám đông những mục sư đang vây
chặt lấy cô phù thủy, không ai trong số hộ có thể cảm nhận được sự có mặt của
bà ngay cả khi bà đứng ngay gần họ, nhưng bà quá căng thẳng để giữ cho mình
không bị phát hiện trong thời gian dài. Bà run run chạm vào
thanh gươm nơi thắt lưng.
Cô phù thủy thổn thức.
“Cô bé đã tới đây trước a, bà ghét và e sợ nó kể từ lúc đó. Ừm, bây giờ cô bé
ấy lại tới và bà lại thất bại trong việc tìm ra cô… Cô bé ở đó, tại Svalbard…
cô bé ở đó với Ngài Asriel, bà đã mất cô bé rồi. Cô bé đã trốn thoát, và cô bé
sẽ…”
Cô phù thủy chưa nói
hết thì bị ngắt quãng.
Một con nhạn biển bay
vào từ phía cửa sổ, nó hoảng loạn tột độ, đập đập đôi cánh bị gẫy và đâm vào
sàn nhà. Nó vùng dậy lao thẳng vào ngực người phù thủy đang bị tra tấn, nó rúc
mỏ vào người cô, kêu ríu rít liên hồi, rồi khóc lóc và cô phù thủy gọi nó trong
đau đớn: “Yambe - Akka! Đến với ta, đến với ta!”
Không ai ngoại trừ
Serafina Pekkala có thể hiểu được điều này, Yambe - Akka là vị nữ thần đến với
phù thủy khi họ sắp chết.
Và Serafina đã sẵn sàng. Trong chốc lát, bà hiện nguyên hình, tiến về
phía trước mỉm cười hạnh phúc, bởi vì Yambe Akka vui vẻ và vô tư lự, sự viếng
thăm của bà là một món quà của niềm vui. Cô phù thủy thấy bà liền ngẩng khuôn
mặt đầy máu của mình lên, và Serafina cúi xuống hôn khuôn mặt ấy và đẩy con dao
vào tim cô một cách nhẹ nhàng. Con nhân tinh nhạn biển lờ mờ đôi mắt ngước nhìn
lên rồi biến mất.
Bây giờ Serafina phải chiến đấu để tìm lối thoát cho mình.
Những gã mục sư hoàn toàn bị sốc, không tin vào mắt mình, nhưng bà
Coulter gần như hồi phục lại ngay tức khắc.
“Bắt nó lại! Đừng để nó trốn thoát!” Coulter la lên, nhưng Serafina đã ở
phía cửa, mũi tên của bà đã được đặt trên cung. Bà giương cung lên và thả tên
ra, chỉ trong nháy mắt, Giáo hoàng đã tắt thở, nằm vật xuống sàn.
Phía ngoài, dọc theo hành lang, cung lại giương lên và mũi tên lại được
phóng ra, một người đàn ông khác ngã xuống, một tiếng chuông chói tai vang lên
lanh lảnh khắp con tàu.
Trên cầu thang và ngoài boong tàu, bà gặp hai thủy thủ trên đường đi, bà
nói với họ: “Phía dưới đó! Tù nhân đang trốn thoát! Mau xuống giúp!”
Thế cũng đã đủ để làm cho họ bị lúng túng. Họ đứng yên lưỡng lự. Chừng đó
thời gian cũng đủ để cho bà trốn thật nhanh và lấy được nhành thông mây từ nơi
cất giấu đằng sau bộ thông gió.
“Bắn nó!” Coulter vừa chạy vừa gào lên ở phía sau, ngay lập tức ba phát
súng trường được bắn ra, đạn va vào kim loại rồi bay lên đám sương mù. Serafina
đã nhảy được lên nhành thông mây của mình rồi giục nó lao nhanh như tên. Chỉ
vài giây sau bà đã an toàn trên không khí, trong đám sương dày, một con ngỗng
khổng lồ lướt đến bên cạnh bà.
“Đi đâu?” nó hỏi.
“Đi khỏi đây, Kaisa, khỏi nơi này. Ta muốn thoát khỏi mùi hôi thối của
bọn người này ngay.”
Thực ra bà không biết mình phải đi đâu hay làm gì tiếp theo nhưng có một
điều bà biết chắc chắn: sẽ có một mũi tên trong ống tên của bà để lại dấu vết
trên cuống họng bà Coulter.
Họ bay về phương nam, xa khỏi cái thế - giới - khác đầy rắc rối lập lòe
trong đám sương mù, và trong khi bay một câu hỏi đã bắt đầu định hình rõ rệt
hơn trong đầu Serafina. Ngài Asriel đang làm gì?
Bởi vì mọi sự kiện đã làm đảo lộn thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ những
hành động bí ẩn của ông ta.
Rắc rối ở đây là nguồn tri thức của bà là thuộc về tự nhiên. Bà có thể
săn bất cứ con thú nào, bắt bất cứ loài cá nào, tìm ra được cả những quả mọng
hiếm có nhất, bà cũng có thể đọc được những dấu hiệu trong ruột của con chồn
mactet hay giải mã những câu châm ngôn trên lớp vẩy của con sào hoặc dịch được
những lời cảnh báo từ phấn hao nghệ tay; nhưng đây là những đứa con của tự
nhiên, và bọn chúng đã kể lại bà những chân lý tự nhiên đó.
Đối với kiến thức về Ngài Asriel, bà cần phải đi tới đâu đó khác.
Tại cảng Trollesund, lãnh sự của họ, tiến sĩ Lanselius vẫn còn giữ liên
lạc với thế giới con người, nghĩ đoạn Serafina Pekkala liền tăng tốc qua màn
sương tới đó để xem liệu ông ta có thể nói mình được gì không. Trước khi vào
nhà của ông, Serafina bay một vòng quanh cảng, nơi màn sương mù trôi dạt giống
như ma trên nước đóng băng, và quan sát như một hoa tiêu đang dẫn con tàu có
đăng kí của châu Phi. Có vài con tàu khác đang nhổ neo phía ngoài cảng. Bà chưa
bao giờ thấy nhiều tàu đến như vậy.
Khi cái ngày ngắn ngủi nhạt dần, bà bay xuống và hạ cánh ở vườn sau nhà
lãnh sự. Bà gõ nhẹ vào cửa sổ, tiến sĩ Lanselius tự mình ra mở cửa, ông đặt một
ngón tay lên môi.
“Chào cô Serafina,” ông nói. “Mau vào nhà nhanh, và cứ tự nhiên nhé.
Nhưng tốt hơn hết là cô đừng có ở đây lâu.” Ông mời bà ngồi vào chiếc ghế bên
cạnh lò sưởi, ngó qua tầm màn nhìn ra phía cửa sổ đối diện với con đường. “Cô
uống một chút rượu chứ?”
Bà nhấm nháp từng ngụm rượu Tokay vàng kim và nói với ông tiến sĩ những
điều đã nhìn và nghe thấy trên con tàu.
“Cô có nghĩ là chúng hiểu được những gì cô ấy nói về đứa trẻ không?” ông
hỏi.
“Tôi nghĩ là không hoàn toàn. Nhưng chúng biết được rằng con bé rất quan
trọng. Còn người đàn bà đó, tôi vẫn e dè mụ, tiến sĩ Lanselius ạ. Tôi sẽ giết
mụ, tôi nghĩ thế, nhưng bây giờ tôi vẫn còn ngại mụ.”
“Vâng,” ông nói, “cả tôi cũng vậy.”
Serafina lắng nghe ông nói về tin đồn lan truyền khắp thành phố. Trong mớ
tin đồn này, có một vài sự thật đã bắt đầu hiện rõ.

