Việt Sử Giai Thoại (Tập 3) - Chương 59 - 60 - 61
59. ĐẠI TƯỚNG ĐỖ LỄ PHẢI
MẶC ÁO CỦA ĐÀN BÀ
Tháng
1 năm Đinh Tị (1377), vua Trần Duệ Tông thân cất quân Đại Việt đi đánh Chiêm
Thành, nhưng rồi bị đại bại, chết trong dám loạn quân. Về trận đánh này, sách Đại
Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 7, tờ 44 a-b) chép như sau:
“Mùa
xuân, tháng giêng, ngày 23, đại quân tiến đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn, Bình Định ngày nay - ND) của Chiêm Thành, sau lên đến
Thạch Kiều, đóng lại ở động Ỷ Mang (nay
chưa rõ là đâu - ND). Chế Bồng Nga cho dựng trại phía ngoài thành Đồ Bàn (cũng tức Chà Bàn, nay thuộc Bình Định - ND),
sai viên quan nhỏ là Mục Bà Ma đến trá hàng, nói dối là Bồng Nga đã chạy trốn, nay
thành trống không, vậy nên tiến quân gấp, chớ bỏ lỡ cơ may.
Ngày
24, vua mặc áo đen, cưỡi ngựa đen pha sắc trắng, sai Ngự Câu Vương Húc mặc áo
trắng, cưỡi ngựa trắng, kíp truyền lệnh tiến quân. Đại tướng Đỗ Lễ thấy vậy can
rằng:
-
Nó hàng là bởi trước muốn bảo toàn đất nước. Quan quân đi vào sâu để đánh phá
thành là việc bất đắc dĩ, vậy xin hãy sai một biện sĩ mang thư đến hỏi tội, cốt
xem hư thực ra sao, ấy cũng như kế của Hàn Tín phá nước Yên thuở xưa, không
phải khó nhọc mà vẫn thành công vậy. Cổ nhân nói lòng giặc khó lường, thần xin
bệ hạ hãy xét kĩ lại.
Vua
nói:
-
Ta mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi để vào
sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu, thế là cơ trời giúp ta đó. Huống
chi, nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ kháng cự. Cổ nhân
nói, dùng binh cốt ở thần tốc, nay nếu dừng lại không tiến, thì đúng là trời
cho mà không lấy, giặc lập cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn
bà.
Nói
rồi lấy áo đàn bà cho Lễ mặc. Quân lính bèn nối gót nhau mà đi như xâu cá, cánh
trước cánh sau cách biệt, giặc thừa cơ xông ra đánh chặn. Giờ tị (khoáng từ 9
đến 11 giờ trưa) quan quân tan vỡ. Vua bị hãm trong trận mà chết, bọn đại tướng
Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, hành khiển Phạm Huyền Linh đều chết cả.”
Lời
bàn: Đánh
giặc cũng như đánh cờ, có khi trước phải tạm nhường mấy nước miễn sau cùng
giành phần thắng thì thôi. Đại tướng Đỗ Lễ cẩn trọng, ấy cũng là phép xử thường
của kẻ quen xông pha trận mạc. Duệ Tông bất chấp lời can ngăn, lại còn coi
khinh mà hạ nhục, bắt đại tướng phải mặc áo đàn bà trước mặt ba quân, chủ quan
háo thắng mà vô mưu đến thế, bảo không thảm bại làm sao được. Cổ nhân dạy rằng,
dụng binh mà khinh tướng, ấy là nguy. Duệ Tông hạ nhục đại tướng Đỗ Lễ, có biết
đâu là đã tự hạ nhục mình, mà xem ra, cái nhục của Duệ Tông mới thực là nỗi
nhục lớn hơn cả.
60. CHUYỆN QUAN HÀNH
KHIỂN ĐỖ TỬ BÌNH
Đời
Trần Duệ Tông (1372 - 1377) quan hành khiển Đỗ Tử Bình được lệnh trấn giữ ở Hóa
Châu (vùng Bình - Trị - Thiên ngày nay). Bấy giờ, vua Chiêm là Chế Bồng Nga sai
người đem mười mâm vàng nhờ Đỗ Tử Bình dâng vua Duệ Tông, cốt tạo mối hòa hiếu
nhất thời để yên bề củng cố lực lượng, hòng đối phó lâu dài với Đại Việt. Nhận
vàng, Đỗ Tử Bình liền giấu vua Trần mà lấy làm của riêng, lại còn bịa đặt tâu
vua rằng Chế Bồng Nga vô lễ, cần phải đem quân đi hỏi tội. Duệ Tông tưởng thật,
giận lắm, cất quân đi đánh Chiêm Thành ngay.
Ngày
23 tháng 1 năm Đinh Tị (1377), Duệ Tông đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn, Bình Định
ngày nay). Chế Bồng Nga dùng mưu đẩy quân Trần vào đất hiểm rồi đánh cho tơi
bời. Vua Trần Duệ Tông cùng một loạt tướng lĩnh cao cấp như đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn
Nạp Hòa, hành khiển Phạm Huyền Linh đều chết trận, Ngự Câu Vương Húc thì bị bắt
sống. Trận này, Đỗ Tử Bình chỉ huy hậu quân, không chịu đến cứu nên thoát được,
còn Hồ Quý Ly thì lo việc quân lương ở phía sau, nghe tin vua chết cũng lập tức
chạy về.
Quân
Đại Việt thua trận, căm ghét Đỗ Tử Bình, bèn bắt ông đem đóng cũi, đưa về kinh
sư để trị tội. Dân dọc đường trông thấy, ném gạch đá vào Đỗ Tử Bình và không
ngớt chửi rủa. Nhưng rồi sau đó, triều đình cũng tha tội chết cho Đỗ Tử Bình, chỉ
phạt tội đồ làm lính.
Lời
bàn: Đỗ
Tử Bình thấy của thì ham, cất giữ riêng mười mâm vàng là gian, lại tấu xàm về
triều là thêm một lần gian nữa. Kẻ tham thì thường bất nghĩa. Đỗ Tử Bình không
đi cứu vua Duệ Tông cũng là sự thường ấy thôi. Song, mấy kẻ bất nghĩa ở đời mà
lại được yên thân. Đỗ Tử Bình từng là hành khiển, quyền uy một thuở đầy mình, bỗng
chốc bị gông cổ đóng cũi chở về kinh để trị tội là một lần nhục, bị dân lành
ném gạch đá và chửi rủa là hai lần nhục, sau rốt lại bị đồ làm lính là ba lần
nhục. Ôi, đổi danh dự và cả sự nghiệp cùng chức quan hành khiển đế lấy mười mâm
vàng, sao mà rẻ rúng thế. Mười mâm vàng kia há lại bù đắp nổi ba lần nhục với
người đương thời, muôn lần nhục với hậu thế được chăng?
61. NGỰ SỬ ĐẠI PHU TRƯƠNG
ĐỖ
Trương
Đỗ (có sách viết là Trương Xã, có lẽ bởi trong Hán tự đỗ và xã có
mặt chữ gần giống nhau mà viết nhầm chăng?) người làng Phù Đái, huyện Đồng Lại
(nay là Ninh Giang, Hải Dương), sau dời về ở làng Nghi Tàm (Thăng Long), đỗ
thái học sinh (tiến sĩ), làm quan đến chức ngự sử đại phu, đình úy tự khanh, trung
đô phủ tổng quản. Thời Trần Duệ Tông, Trương Đỗ nổi danh với việc can vua không
nên xuất quân đánh Chiêm Thành (1377). Duệ Tông không nghe, đến nỗi phải thân
vong quốc nhục. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 7, tờ
45 a-b) chép chuyện Trương Đỗ như sau:
“Trước
đây, ngự sử đại phu Trương Đỗ can vua rằng: Chiêm Thành chống lệnh, tội cũng
chưa đáng phải giết, đã thế, nó lại ở cõi xa xôi, núi sông hiểm trở. Nay, bệ hạ
mới lên ngôi, đức chính và giáo hóa chưa thấm nhuần được tới phương xa, vậy hãy
sửa sang văn đức, khiến nó tự đến thần phục. Nếu như nó không theo thì sau sẽ
sai tướng đi đánh cũng không muộn. Đỗ ba lần dâng sớ can vua không được, bèn
treo mũ mà bỏ đi.
Đỗ
là người thanh liêm, thẳng thắn, không bè đảng, phóng khoáng và có chí lớn. Hồi
nhỏ, có lần ông ra chơi ở Hồ Tây xem tướng sĩ tập bắn và nói đùa rằng:
-
Nghề này thì có khó gì?
Vị
tướng quân nghe vậy, lấy làm ngạc nhiên, hỏi lại:
-
Mày có bắn trúng được không?
Ông
trả lời:
-
Xin thử xem.
Rồi
ông bắn ba phát trúng cả ba. Tướng quân rất kinh ngạc, muốn nuôi làm con nhưng
Đỗ coi khinh không theo. Sau, ông đi du học, đậu thái học sinh, rất nổi danh.
Ông làm quan trong sạch, nghèo túng, không gây dựng điền sản, con cháu nối đời
làm quan cũng có tiếng nghèo mà trong sạch.”
Sử
thần Ngô Sĩ Liên nói: Trương Đỗ khi làm quan thì không giấu lời nói
thẳng, thế là đã xứng với chức vụ của mình. Khi can ngăn thì nói đến ba lần, thế
là đã dám chạm đến cả vua. Vậy mà ông không được vua nghe, thế là tâm trí vua
đã lẫn. Người có trách nhiệm phải nói, không được nghe theo thì bỏ đi, thế là
sự tiến lui của Đỗ đã hợp lẽ phải. Tuy lời nói thẳng thường trái tai vua nhưng
lại có lợi cho thân vua. Việc này có thể lấy làm gương được.”

