Nước Nhật mua cả thế giới - Phần II - Chương 01 - Phần 1
PHẦN HAI
MỘT CHIẾN LƯỢC THỐNG TRỊ
I. Nhật Bản đang mua cả thế
giới
Tư
tưởng về cạnh tranh của họ luôn luôn mang tính chất cực kì đối kháng; mục tiêu
là hủy diệt sự cạnh tranh; không phải là độ sức với cạnh tranh mà là loại bỏ
nó.
Lee
lacocca, Chủ tịch Chrysler[38]
[38] Phỏng vấn của Newsweek,
2/4/1990.
Nhật
Bản không còn bằng lòng với việc xuất khẩu và nhét tiền đầy két. Họ đã lao vào
một chiến dịch quy mô to lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại: họ mua cả
thế giới. Dù là bí mật và lén lút nắm quyền kiểm soát hay ngược lại công khai
và rùm beng mua các xí nghiệp, thì các nhà công nghiệp Nhật Bản đang có một thú
tiêu khiển mới là mua lại các xí nghiệp gặp khó khăn trong các nước chúng ta,
mà thường khi các xí nghiệp này lại bị chính các ngành công nghiệp Nhật Bản đẩy
xuống hố. Hàng mảng công nghiệp châu Âu và Mỹ rơi vào tay Nhật Bản khi họ tung
ra hàng triệu đô la. Thực tế, Nhật Bản muốn thống trị nền công nghiệp thế giới,
và họ không có cách nào khác. Đứng trước sự phản đối của phương Tây chống lại
hình thức xâm lăng kinh tế mới là sự xuất khẩu ồ ạt của họ và sợ rằng khối CEE
cũng như cả thế giới công nghiệp dựng lên những hàng rào bảo hộ mậu dịch đối
với họ, Nhật Bản bắt đầu đầu tư ồ ạt ra nước ngoài. Các nhà công nghiệp Nhật
Bản bây giờ tìm cách lách các hàng rào hải quan và tấn công các nền kinh tế
phương Tây từ bên trong. Bây giờ là lúc họ “phi địa phương hóa”, nghĩa là họ
xây dựng những xí nghiệp Nhật Bản ngay trên đất của những quốc gia là mục tiêu
tấn công của họ. Các doanh gia của đất nước Mặt trời mọc bây giờ không mệt mỏi
rảo khắp thế giới để đầu tư hàng tỷ đô la vào trong các “pháo đài”, mà nhiều
pháo đài đã sắp đầu hàng.
Từ
hai ba năm nay, các nhà lãnh đạo kinh tế và tài chính Nhật thường lặp đi lặp
lại một từ màu nhiệm: “Toàn cầu hóa”. Hiểu theo nghĩa đen, theo tinh thần của
người Nhật, thì từ này có nghĩa là Nhật Bản cấp thiết phải hội nhập vào thế
giới ngày nay. Rất tốt! Để Nhật Bản đừng bao giờ bị cám dỗ bởi chủ nghĩa bá
quyền quân phiệt nữa, còn gì đáng trân trọng và đáng mong ước hơn? Thế nhưng,
thực tế lại đi xa hơn thế nhiều. Người khổng lồ Nhật Bản, với sức mạnh tài
chính ở đỉnh cao, hướng cặp mắt thèm muốn nhìn khắp thế giới. Từng bước, các
lợi ích và tư bản của Nhật xâm nhập tất cả các hệ thống thế giới, ngay cả những
hệ thống khó xâm nhập nhất. Khắp nơi, đầu tư trực tiếp của Nhật như những đợt
sóng kế tiếp nhau ào tới các chi nhánh công ty Nhật Bản, các nhà máy sản xuất
cứ như từ dưới đất mọc lên và bắt đầu thuê mướn nhân công phương Tây. Ở một số
vùng đặc biệt chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, nơi mà nạn thất nghiệp
hoành hành, người Nhật được đón tiếp như những vị cứu tinh thực sự. Sau Mỹ và
phần châu Á còn lại, nay đến lượt châu Âu trở thành mục tiêu mới của các nhà
đầu tư Nhật. Một lý do đơn giản của sự hấp tấp này: ở Tokyo người ta đang cảm
thấy cấp bách vì không thể chậm trễ trước khi thị trường châu Âu thống nhất vào
năm 1992.
Cơn
thèm khát của Nhật không dừng lại ở đó. Từ nay, các vương quốc tài chính của
đất nước Mặt trời mọc từng giờ cạnh tranh gay gắt để chiếm đoạt trước mọi người
những gia sản quý báu nhất ở nước ngoài. Những bức danh họa, những vườn nho,
lâu đài, dinh thự hạng sang, nhà làm văn phòng, khách sạn, sân chơi thế thao,
sân golf, đồ cổ, ngựa đua, xe hơi cổ sưu tầm: tất cả những gì đưa ra bán trên
khắp thế giới đều khiến những người Nhật giàu có quan tâm. Họ đã thay thế các
tiểu vương của các vương quốc dầu lửa Trung Đông. Những tay chơi tài tử hãy coi
chừng!
Cái lưới nhện Nhật Bản
Khi
nước Nhật bước ra khỏi tình trạng cùng khổ và đến thời kì cạnh tranh giữa các
tập đoàn lớn trong nước, những nhà kinh doanh đứng đầu các công ty Nhật giàu sụ
đã đưa ra nhận định sau: nếu muốn tiếp tục thịnh vượng, nước Nhật không có cách
nào khác là bước ra khỏi biên giới của mình. Nhật Bản chẳng đã xây dựng lại
thành công nền kinh tế đó sao? Vậy thì tại sao dừng lại ở nửa đường? Để bảo đảm
nền công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản phải lợi dụng khả năng tài chính
của mình để chinh phục hệ thống công nghiệp thế giới. Một lý do khác dẫn đến
chủ nghĩa bành trước kinh tế này: nhất thiết phải “quay vòng” các thặng dư tài
chính khổng lồ tích tụ trong các ngân hàng, từ sự tiết kiệm ở mức kỷ lục của
nhân dân và từ nền công nghiệp quốc gia. Thật vô lý nếu không làm cho cái vốn
ấy sinh lãi. Lý do thứ ba: với sự tăng giá của đồng yên, hàng hóa xuất khẩu của
Nhật ngày cảng giảm tính cạnh tranh. Do đó phải mua, phải “phi địa phương hóa”.
Sau
khi đi lên nhận định ấy, con nhện Nhật Bản không ngừng giăng tơ khắp thế giới.
Đôi khi nhện biến thành nhện độc chết người. Với một số nhà quan sát nước
ngoài, một hình thức thực dân mới nham hiểm đang được thi hành. Một số người
còn đi xa hơn, coi đó là chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản mới. Thua cuộc chiến tranh
quân sự, Nhật tìm cách thắng cuộc chiến tranh kinh tế. Mối đe dọa của sự thống
trị kinh tế đang lơ lửng trên đầu cả thế giới. Frans Andriessen, phó chủ tịch
Ủy ban châu Âu, buộc tội Nhật Bản giao chiến với phương Tây trong một cuộc
“chiến tranh đầu tư”, những mất cân bằng có lợi cho Nhật Bản trong lĩnh vực này
là “nguy hiểm hơn cả các thâm hụt mậu dịch”[39]. Và ông nhấn mạnh rằng hiện tại
đầu tư của Nhật Bản thực hiện ở châu Âu cao hơn gấp 60 lần đầu tư châu Âu thực
hiện ở Nhật Bản.
[39] Tuyên bố tại diễn đàn kinh tế
Davos (Thụy Sĩ), AFP, 2/2/1990
Bước
tiến cực nhanh của sự có mặt của Nhật Bản trên thế giới được chia làm ba giai
đoạn:
Giai
đoạn đầu: theo kịch bản cổ điển, các ngành công nghiệp Nhật Bản bán hàng hóa ra
thị trường thế giới thông qua trung gian các hệ thống phân phối quy ước của
nước ngoài hoặc của Nhật. Nếu thuận lợi, nhà công nghiệp Nhật tiêu thụ sản phẩm
của mình nhờ một hãng đại diện thương mại Nhật (Sôgô Sôsha). Sau đó, nếu cảm
thấy có lực để thử mạo hiểm, nhà công nghiệp Nhật sẽ xây dựng những chi nhánh
phân phối của chính mình ở hải ngoại.
Giai
đoạn hai: các nhà công nghiệp Nhật có phương tiện thì thiết lập trực tiếp ở
nước ngoài các nhà máy sản xuất của họ, đôi khi ngay cả các phòng nghiên cứu
thiết kế sản phẩm. Sự phi địa phương hóa ấy cho phép họ thiết kế và sản xuất
những sản phẩm nhắm vào và thích nghi hơn với nhu cầu của khách hàng địa
phương. Cái lợi trước mắt là giá thành sản xuất giảm nhờ nhân công địa phương
rẻ hơn và không còn chi phí vận chuyển. Cái lợi lâu dài là chiếm lĩnh những
phần thị trường mới và cạnh tranh.
Giai
đoạn thứ ba và cuối cùng: các ngân hàng, hãng bảo hiểm, hãng môi giới Nhật Bản
đổ bộ lên thị trường nước ngoài. Môi giới tài chính đến lượt nó được phi địa
phương hóa, cho phép họ mua lại liên tiếp các xí nghiệp. Trong khi đó, các Sôgô
sôsha thực sự trở thành những trung tâm tình báo kinh tế và hoạt động hết công
suất, nhằm thu nhập thông tin trong tất cả các lĩnh vực mua và bán.
Dĩ nhiên,
Nhật Bản không phải là nước đầu tiên đầu tư ra nước ngoài. Trước Nhật từ lâu,
Anh quốc ở thế kỷ XIX, rồi Mỹ ở thế kỷ XX đã nêu gương về mặt sử dụng sức mạnh
công nghiệp của họ để mở rộng ảnh hưởng ra xa ngoài biên giới, ở các thuộc địa
(Anh) và ở châu Âu (Mỹ). Nhưng ở cuối thế kỷ XX này, kết quả của cuộc tấn công
của Nhật Bản trên thế giới – một quá trình còn lâu mới chấm dứt – đã nổi bật
đến nỗi gần như làm người ta quên đi hai cường quốc đang suy yếu kia. Từ Trung
Quốc đến Hà Lan, qua Indonésia và Mỹ La tinh, không còn vùng nào trên thế giới
thoát khỏi cặp mắt chăm chú theo dõi của các nhà đầu tư Nhật. Về giá trị tuyệt
đối và riêng trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, Nhật chỉ mới đứng hàng thứ ba
trên thế giới, khá xa sau Mỹ và Anh. Năm 1988, tổng số đầu tư trực tiếp của
Nhật Bản thực hiện ở nước ngoài lên tới 110,8 tỷ đô la, tăng cực nhanh đến 43,9
% trong vòng chỉ một năm, so với năm 1987.
Tuy
nhiên, lúc ấy Nhật chỉ chiếm 10,7 % tổng số đầu tư trực tiếp thực hiện trên thế
giới. Mỹ đứng đầu với 31,7 % tổng số đầu tư trên thế giới (326 tỷ đô la). Đứng
thứ nhì là Anh với 17,8 % (183,7 tỷ đô la)[40]. Nhưng cần nhớ rằng chỉ mới lao
vào cuộc đua gần đây. Xuất phát từ bậc thang cuối cùng, Nhật đã leo các nấc
thang với tốc độ kỷ lục, và nếu nhịp độ hiện nay vẫn tiếp tục, chẳng bao lâu
Nhật sẽ dẫn đầu.
[40] Thống kê của JETRO (Tổ chức
Ngoại thương Nhật Bản)
Nhờ
kết số thương mại rất quan trọng và cán cân thanh toán thặng dư rất lớn, Nhật
đã nhanh chóng tích lũy một sức mạnh tài chính đáng kể. Việc đồng yên đột ngột
tăng giá lại càng củng cố thêm quả đấm tài chính độc nhất vô nhị ấy trên thế
giới. Các nhân tố khác nhau ấy đã dẫn tới sự tăng nhanh đặc biệt của tư bản
xuất đi. Năm 1985, tư bản Nhật xuất ra nước ngoài lên đến 65 tỷ đô la. Từ 1986,
nó vượt nhẹ nhàng mức 130 tỷ đô la hàng năm. Nhật đã trở thành nước xuất khẩu
tư bản lớn nhất thế giới. Theo đa số các dự báo nghiêm túc, Nhật Bản sẽ vẫn dễ
dàng đứng hàng đầu, ít nhất trong một số năm sắp tới. Theo nghiên cứu mới đây
của một chuyên gia ngân hàng Pháp, vai trò của Nhật về tiền tệ và tài chính sẽ
mở rộng đáng kể trong những năm 1990[41].
Ngoài ra, Nhật bắt đầu thu về lợi nhuận và lãi cổ phần quan trọng từ đầu tư của
họ ở nước ngoài. Các khoản thu ấy đã tăng từ 9,5 tỷ đô la năm 1986 lên 16,7 tỷ
đô la năm 1987 và 21 tỷ đô la năm 1988. Lãi cổ phần và lợi nhuận của họ đã tiếp
tục tăng và đạt 27,6 tỷ đô la năm 1989[42].
[41] Nghiên cứu của Jean – Michel
Dinand, trưởng văn phòng Nhật Bản của Tổng cục nghiên cứu thuộc ngân hàng Pháp
quốc, tháng 11/1989.
[42] Thống kê của Bộ tài chính
Nhật, Nihon Keizai Shimbun, 12/5/1990.
Mặt
khác, nếu chỉ xem xét các khoản đầu tư trực tiếp thì rất không đầy đủ. Bởi vì
đó chỉ là phần nổi và được biết đến của cả tảng băng. Tích sản của một nước nào
đó nắm ở ngoài biên giới quốc gia của mình, ngoài hoạt động kinh tế, còn bao
gồm nhiều lĩnh vực khác. Nhật Bản không phải là ngoại lệ, ngược lại là đằng
khác. Những đầu tư gián tiếp được thực hiện dưới nhiều hình thức, thường công
chúng không được biết đến, đôi khi bí mật nữa, và do đó rất khó định lượng.
Những đầu tư gián tiếp đáng chú ý bao gồm: tham gia vốn trực tiếp hoặc không,
trong các xí nghiệp của nước ngoài, quỹ đầu tư công khai hoặc qua trung gian
trên các thị trường tài chính nước ngoài (thị trường chứng khoán, thị trường
trái phiếu, khoán phiếu các loại); những vụ mua động sản hoặc bất động sản; cho
vay của chính phủ hoặc tư nhân cho các tổ chức quốc tế, các chính phủ và cơ
quan nước ngoài; và nhiều hoạt động khác, đôi khi bí mật, không hề được thể
hiện trong các tài liệu chính thức của chính quyền. Trong trường hợp của Nhật,
còn phải kể đến các trái phiếu của ngân khố Mỹ mà hiện giờ họ chiếm đến 13 %.
Nhật đã tài trợ một phần lớn cho khoản thâm hụt ngân sách của Mỹ.
Về
tài sản gộp của Nhật ở nước ngoài được biết đến và được kết toán thì Nhật Bản
chiếm vị trí số một thế giới cuối năm 1988, với tổng số 1.469 tỷ đô la. So với
tài sản ở nước ngoài của Mỹ là 1.253 tỷ đô la. Ngoài ra, tài sản của Nhật năm
1988 đã tăng ngoạn mục so với năm 1987 (1.072 tỷ đô la); tăng 37 % trong vòng
một năm! Không có nước công nghiệp lớn nào trên thế giới có thể vỗ ngực về một
thành tích như vậy. Nhưng chưa hết. Do các khoản nợ và các cam kết tài chính
vượt xa số tài sản của họ, nước Mỹ trở thành con nợ với 532 tỷ đô la nợ ròng,
trong khi Nhật Bản là chủ món nợ 291 tỷ đô la. Như vậy, là Nhật hơn Mỹ 824 tỷ
đô la về tài sản[43]. Một nước có vẻ cực kì
nghèo, một nước thì cực kì giàu. Để hoàn tất bức tranh, cần phải nói rằng từ
nay Nhật đã trở thành nước chủ nợ lớn nhất thế giới.
[43] Hirohiko Okumura, Lịch trình thay
đổi cơ cấu kinh tế và tài chính ở Nhật trong những năm 1990. Viện nghiên cứu
Nomura, 4/1990.
|
Tài sản và nợ của Mỹ và của |
||||
|
Nhật |
Mỹ |
|||
|
1980 |
1988 |
1980 |
1988 |
|
|
Tài sản |
159,6 |
1469,3 |
607,0 |
1253,6 |
|
Nợ |
148,0 |
1177,6 |
500,8 |
1786,2 |
|
Tài sản ròng |
11,5 |
291,7 |
106,2 |
-532,5 |
|
Nguồn: Bộ Tài chính Nhật và |
||||
Những cỗ voi của nền công
nghiệp Nhật Bản
Những
xí nghiệp Nhật Bản gieo khiếp sợ trong giới kinh doanh ở châu Âu và Mỹ là những
xí nghiệp nào? Đó chủ yếu là những siêu khổng lồ trong lĩnh vực chế tạo xe hơi,
điện tử, công nghiệp nặng và nhẹ. Mới cách đây mười năm còn chưa có mặt trong
các bảng vàng thế giới, vậy mà hiện nay các tập đoàn lớn của Nhật đang gặm dần
những chỗ cao nhất trong bảng xếp hạng các công ty lớn nhất thế giới. Trong
bảng xếp hạng 30 công ty lớn nhất thế giới năm 1990 theo doanh số (bán và dịch
vụ) của tạp chí Nouvel Economiste (tài khóa 89/90), có bảy công ty của Nhật
Bản. Đó là Toyota (tập đoàn số 1 Nhật Bản và thứ 5 thế giới), Hitachi (tập đoàn
đứng thứ 8 trên thế giới), Matsushita Electric (thứ 12), Nissan (thứ 13),
Toshiba (thứ 24), Tokyo Electric Power (thứ 25) và Honda (thứ 29). Trong số 30
công ty hàng đầu ấy chỉ có một là của Pháp (Renault), mà lại đứng cuối bảng.
Trong số 100 xí nghiệp hàng đầu thế giới, 18 là của Nhật. Số xí nghiệp loại này
của Nhật nhiều hơn rõ rệt so với số của nước Đức thống nhất và gần bằng số của
cả Anh, Ý và Pháp cộng lại. Để so sánh, nước Anh – cựu vô địch ngành công
nghiệp – chỉ còn nắm 7 xí nghiệp loại hàng đầu thế giới. Nước Pháp có 9. Còn Ý
chỉ có 5. Mỹ tiếp tục giữ huy chương vàng với 35 hãng. Mặc khác, danh dự của Mỹ
vẫn còn nguyên vẹn bởi vì cả ba hãng đứng đầu bảng đều là của Mỹ: General
Motors, Ford và Exxon. Cả ba dường như không thể phế truất được.
Nhưng
vấn đề là Mỹ còn giữ được bao lâu vì Nhật đang nhanh chóng bắt kịp Mỹ. Các hãng
Nhật đang tiến với tốc độ chóng mặt lên chóp đỉnh thế giới. Trong lúc các đối
thủ cạnh tranh của họ khá lắm là giữ được cho doanh số khỏi sụt thì tỷ lệ tăng
doanh số của các hãng hàng đầu Nhật Bản lại thường đạt tới hai con số. Chỉ
trong vòng hai năm, Toyota đã leo hai bậc trong bảng xếp hạng, Hitachi leo bốn
bậc, Matsushita ba bậc và Nisssan sáu bậc. Về tài sản (vốn riêng), 3 trong số
10 hãng tư nhân lớn nhất thế giới năm 1989 là của Nhật: Toyota, Matsushita và
Hitachi. Nếu lấy tiêu chuẩn là chứng khoán được bán, thì sức nặng tài chính của
Nhật thực sự trở nên đè bẹp, vì 8 trong số 10 hãng hàng đầu thế giới, tất cả
đều là của Nhật, theo thứ tự là: Nippon, Telegraph và Telephone, Sumitomo Bank,
Industrial Bank of Japan, Dai Ichi Kangyo Bank và Fuji Bank.
Chúng
ta hãy tiếp tục so sánh. Trong lĩnh vực xe hơi, năm 1989 Toyota đã thực hiện
doanh số 425,635 tỷ
franc, tức là hơn phân nửa doanh số của General Motors, hãng số 1 thế giới.
Nhưng Toyota đã vượt xa hãng số một châu Âu là Daimler – Benz (doanh số 259,198 tỷ franc), hãng này
lần đầu tiên vào năm 1989 cũng đã để cho mình bị qua mặt bởi Nissan, hãng xe
hơi đứng hàng thứ hai của Nhật với doanh số 261,388 tỷ franc. Thành tích của
Toyota thực tế gần gấp đổi của Fiat (241,940 tỷ franc) và nhiều hơn gấp đôi doanh số của
hai hãng lớn của Pháp cộng lại: đó là Renault (174,477 tỷ franc) và Peugeot
(152,955 tỷ franc). Nhờ quản lý rất chặt chẽ, do đó đạt mức lãi kỷ lục, Toyota
lại còn tích lũy được vốn riêng nhiều gần gấp 10 lần hơn Renault (198,753 tỷ
franc so với 22,466 tỷ franc). Còn về Peugeot, nếu Toyota muốn mua, nó chỉ cần
“lụm” một cái là xong.
Trong
lĩnh vực điện tử, lợi thế cũng nghiêng về các hãng lớn của Nhật. Doanh số của
Hitachi (327,725 tỷ franc) theo sát gót hãng IBM của Mỹ, hãng lớn nhất và vô
địch về năng suất (doanh số 400,152 tỷ franc). Doanh số của Hitachi vượt xa
hãng khổng lồ Siemens của châu Âu (207,406 tỷ franc), gấp bốn lần hãng lớn
Thomson của Pháp (76,700 tỷ franc) và gấp gần 8 lần hãng lớn Olivetti của Ý.
Nhưng với các đối thủ cạnh tranh châu Âu, vấn đề là Hitachi không đơn độc.
Trong lĩnh vực sản xuất điện, điện tử và tin học, Nhật có cả một đạo quân những
công ty lớn. Trong số 20 hãng lớn nhất thế giới, thì 10 hãng là của Nhật:
Hitachi, Matsushita, Toshiba, NEC, Mitsubishi Electric, Fujitsu, Sony, Sharp,
Sanyo và Canon. Vậy mà, mới thoạt nhìn, công nghiệp châu Âu dường như chưa
chết, bởi vì trong bảng xếp hạng này dù sao cũng còn bốn hãng châu Âu: Siemens,
Philips, CGE và Thomson.
|
Thành tích của các hãng xe |
||||
|
Doanh |
1989/88 |
Vốn |
Lãi |
|
|
General Motors |
809.952 |
2,7 |
235.756 |
26.955 |
|
Ford |
613.506 |
4,0 |
153.981 |
24.471 |
|
Toyota |
425.655 |
14,6 |
198.753 |
20.433 |
|
Nissan |
261.388 |
17,3 |
83.744 |
5.371 |
|
Daimler-Benz |
259.198 |
3,9 |
54.963 |
21.816 |
|
Fiat |
241.940 |
14,3 |
74.234 |
15.376 |
|
Chrysler |
222.837 |
2,3 |
47.921 |
2.290 |
|
Volkswagen |
221.740 |
10,4 |
39.039 |
3.522 |
|
Honda |
178.401 |
10,4 |
50.219 |
3.782 |
|
Renault |
174.477 |
8,1 |
22.466 |
9.289 |
|
Peugeot |
152.955 |
10,5 |
38.530 |
10.301 |
|
Nguồn: Tạp chí Nouvel |
||||
Đầu cơ bất động sản
Sự
giàu có của các ngân hàng, các công ty bảo hiểm và các tập đoàn lớn của Nhật
Bản từ đâu ra? Ngoài những khoản thu từ xuất khẩu và từ sự hi sinh của dân
chúng Nhật suốt 40 năm, đó còn là sự đầu cơ. Trước hết là đầu cơ trên các thị
trường tài chính và chứng khoán của Nhật và của cả thế giới. Kế đến, có lẽ nhất
là sự đầu cơ đất đai ở Nhật. Mọi người đều đồng ý sự đầu cơ điên cuồng ấy dựa
trên sự khan hiếm đất đai ở Nhật. Nhưng từ ít năm nay, sự tăng vọt giá cả không
liên quan gì đến thực tế giá đất đai. Giá 1 mét vuông đất đai xây dựng ở khu
Ginza, trái tim thương mại của Tokyo, vào đầu năm 1990 ít nhất là 28 triệu yên,
tức hơn 1 triệu franc một ít! Nghĩa là một vuông đất kích thước chỉ bằng một
tấm bưu thiếp nhỏ giá 430.000 yên, tức 15.480 franc. Cuối năm 1990, một mét
vuông đất cũng ở khu ấy đã lên tới 38 triệu yên (1.36 triệu franc). Ở Tokyo và
một vài thành phố khác, nạn đầu cơ đất đai tới mức mà giá cả đã tăng gấp đôi
hoặc gấp ba trong vòng chưa đầy ba năm. Ở Osaka, chỉ trong năm 1989 giá đất
tăng 56 %. Ở Kyoto tăng 80 %. Ở Tokyo, trong các khu để ở ít đắt nhất thì giá
bán một mét vuông nhà trung bình cũng 1 triệu yên, tức 36.000 franc. Còn về các
khu sang trọng thì giá lên tới tột đỉnh. Một căn hộ mua cách đây 5 năm với cái
giá kếch sù 1 tỷ yên (35 triệu franc) được bán lại dễ dàng vào năm 1990 với cái
giá 8 lần cao hơn.
Sự
đầu cơ ấy có lợi cho ai? Không phải cho dân Nhật, bởi vì họ không còn có thể
mua nhà ở được nữa. Tới mức mà nước Nhật, trước đây là vương quốc của sự kết
dính xã hội, thì bây giờ dần dần bị xé thành hai giai cấp: những người chủ nhà
đất (thường là do thừa kế) và những người không sở hữu nhà ở. Hiện tại, một
nhân viên người Nhật muốn mua một căn nhà trong vòng bán kính 60 kilomet từ
trung tâm Tokyo phải bỏ ra trung bình 8 năm tiền lương. Một căn nhà tiền chế
khiêm tốn trong vùng ngoại ô trung bình của Tokyo giá 3 triệu franc. Với những
gia đình không có khả năng, một số tổ chức tài chính đề nghị cho vay trả góp
trong nhiều thế hệ, với thời hạn tối đa 100 năm!
Giá
cả tăng vọt chỉ có lợi cho các công ty lớn sở hữu đất đai. Thủ thuật ở đây rất
đơn giản: vốn đẻ ra vốn. Một công ty có miếng đất được đánh giá bằng số tiền X
có thể vay vốn tương đương với giá trị X đó. Rồi với giá trị bất động sản của
nó tăng lên, công ty càng làm cho cái vốn lớn hơn của mình sinh lãi, thì kết
quả logic là nó càng tích lũy được tài sản nhiều hơn.
Như
thế, nếu người Nhật làm công ăn lương và gia đình anh ta chẳng được lợi lộc gì
thì ngược lại, toàn bộ giới tài chính lại thủ lợi từ sự đầu cơ đó. Cần nói thêm
rằng, do tác động gián tiếp và dưới sức ép của các nhà đầu tư Nhật, sự đầu cơ
bất động sản đè nặng lên tất cả các thủ đô lớn của thế giới công nghiệp hóa,
nơi mà giá cả có xu hướng tăng theo phong trào. Hiện tượng này đặc biệt dễ thấy
ở Hồng Kông, Đài Bắc và Seoul, nơi mà giá cả tăng lên khủng khiếp. Tại thị
trường chứng khoán Tokyo, “quả bóng đầu cơ” – như người ta đã quen gọi ở thủ đô
Nhật Bản – đã vỡ trong năm 1990. Mùa thu năm ấy, giá bất động sản có xu hướng
ổn định dần, nếu không phải giảm chút ít trên thị trường Nhật. Các giới chức
chính phủ thở phào nhẹ nhõm đón nhận sự lành mạnh hóa thị trường bất động sản
đang diễn ra. Tuy vậy, nếu một ngày nào đó giá bất động sản lại tụt mạnh đột
ngột thì thiệt hại gây ra sẽ vô chừng. Chính vì thế, dù có các biện pháp của
chính phủ nhằm hãm bớt đà tăng giá, dường như người ta loại trừ một sự sụp đổ
giá bất động sản. Những ngân hàng và công ty bảo hiểm khổng lồ của Nhật, những
kẻ đầu tiên lãnh hậu quả nếu nó xảy ra, sẽ làm mọi cách để tránh một sự sụp đổ
như vậy.

