Bản Đàn Thôn Dã - Chương 2

Ngày 5, tháng Ba.

Tôi ghi nhận hôm ấy có
ý nghĩa là một ngày khai sanh. Gọi đấy là nụ cười thì thật không đủ. Đúng hơn,
đây là sự thoát hình lột xác. Đột nhiên, tất cả những nét trên gương mặt
Gertrude trở nên linh động… như một sự soi sáng bất ngờ, như ánh hào quang tím
nhạt đột hiện trên núi Alpes một buổi tinh sương trước cả bình minh, làm rung
rinh đỉnh núi tuyết phủ vừa được mang ra khỏi bóng đêm, như một sự tô màu huyền
diệu; tôi cũng nghĩ đến hồ Bethesda của Phúc Âm mà làn nước tù bấy lâu ủ ê vừa
được thiên thần tới đánh thức. Tôi lâng lâng hồ hởi ngắm nhìn nét đẹp thánh
thiện vừa mới xuất hiện trên gương mặt Gertrude, vì cái gì vừa tới ngự trị nơi
hình hài cô bé, tôi nghĩ không hẳn là Trí Tuệ, mà là Tình Thương. Linh hồn tôi
như bay bổng với ơn phước dào dạt, và nụ hôn đầu tiên tôi đặt lên vừng trán
xinh đẹp là nụ hôn kính cẩn tôi dâng lên Chúa.

Bước đầu càng khó khăn
bao nhiêu thì những bước tiếp theo lại dễ dàng bấy nhiêu. Hôm nay tôi ngồi cố
gắng nhớ lại những chặng đường hai chúng tôi đã qua; hình như có khi Gertrude
đã tiến bằng những bước nhảy vọt, làm phương pháp giảng huấn của tôi trở thành
trò đùa. Tôi nhớ lúc đầu tôi chú trọng đến tĩnh từ hơn là danh từ. Thí dụ như
nóng, lạnh, ấm, êm, đắng, cứng, mềm, nhẹ,… Rồi tôi bước sang động từ, như tách
rời, ráp lại, nâng lên, chéo qua, ngã xuống, nối lại, phân ra, hợp vào,… Ít lâu
sau không cần đến phương pháp nữa, tôi nói chuyện bình thường với Gertrude mà
vẫn không sợ mình đi quá nhanh; tôi khuyến khích Gertrude tha hồ đặt câu hỏi
cho tôi giảng giải. Tất nhiên khi tôi đi rồi, Gertrude còn lại một mình vẫn
tiếp tục vận dụng trí óc; thành thử nhiều khi trở lại để dạy bài mới cho
Gertrude, tôi phải ngạc nhiên vì tấm màn đêm lần trước ngăn cách thầy trò chúng
tôi tự nó đã mỏng đi trông thấy. Tôi thầm nghĩ, nàng Xuân đầm ấm tất phải thắng
nổi chúa Đông lạnh lùng. Đã bao lần tôi thích thú ngắm cảnh tuyết tan: có lẽ vì
tấm thảm tuyết hao mòn phía dưới, trông ngoài tưởng như không thay đổi, mùa
đông nào vợ tôi cũng mắc lừa về chuyện này và thường than với tôi rằng tuyết
mãi không chịu tan; rồi thảm tuyết tưởng còn dầy thì bất thần từng mảng tuyết
mất chân rạn vỡ trôi đi, phơi bày sự sống tưng bừng đã âm thầm hồi sinh tự
những bao giờ.

Sợ Gertrude suy nhược
vì cứ ngồi bên lò sưởi như bà lão, tôi bắt đầu dẫn cô bé ra ngoài dạo chơi.
Nhưng chỉ khi nào có tôi cầm tay Gertrude mới chịu đi. Con bé sợ hãi và ngạc
nhiên lúc vừa ra khỏi nhà. Tuy Gertrude chưa biết trình bày rành mạch, tôi cũng
quá rõ là nó nhút nhát như vậy là vì cho đến bây giờ chưa từng được ra khỏi
ngưỡng cửa. Nơi ngôi nhà tranh cũ của bà, nó chưa bao giờ được ai săn sóc ngoài
việc cho ăn cho khỏi chết đói, nói gì đến chuyện dưỡng dục. Vũ trụ tối tăm của
Gertrude là bốn bức tường của căn phòng chật hẹp mà nó chưa dám rời khỏi. Những
ngày hè nó chỉ dám mon men đến thềm, khi cửa nhà mở ra bên ngoài sáng rộng. Về
sau Gertrude cho tôi biết là hồi trước nghe chim hót, nó tưởng tiếng chim là do
nắng tạo thành cũng như hơi ấm mơn trớn trên má hay trên da bàn tay nó, và tuy
bấy giờ không biết suy nghĩ thấu đáo, nó cho là không khí được nắng sưởi nóng
đã hót lên, tương tự nước đun sôi thì reo trong ấm treo trên lò lửa. Thực ra
Gertrude bấy giờ không quan tâm đến chuyện gì. Con bé sống cô lập trong hôn mê
tê dại, cho đến hôm được tôi mang về săn sóc. Tôi nhớ mãi nó vui mừng ngoài sức
tưởng tượng khi được cắt nghĩa là những tiếng hót xinh xắn bé bỏng đó là ngôn
ngữ của những sinh vật mà hình như nhiệm vụ độc nhất trong trời đất là cảm thấy
hạnh phúc và ca lên niềm vui chan hòa của tạo vật. Từ hôm đó Gertrude có thành
ngữ mới là ‘Con vui như chim’.

Nhưng con bé buồn vì
không thấy được cái tạo vật huy hoàng mà chim ca ngợi. Gertrude hỏi tôi:

“Mục sư ơi, cuộc đời có
đẹp như lời chim kể không. Tại sao loài người không nói về cuộc đời nhiều hơn.
Tại sao Mục sư không kể cho con nghe nhiều hơn. Hay Mục sư sợ con tủi thân vì
những chuyện con không được thấy. Con không buồn đâu. Chim vẫn kể cho con biết
bao nhiêu chuyện. Con tin là con hiểu được những gì chim muốn nói với con.”

Tôi kiếm lời an ủi:

“Những người có thị
giác không biết nghe tiếng chim hót như con đâu.”

Cô bé lại hỏi:

“Nhưng Mục sư ơi, sao
những sinh vật khác không hót?”

Nhiều lúc Gertrude làm
tôi phải suy nghĩ. Gertrude bắt tôi phải phân tích những sự việc tôi đã quen
chấp nhận mà không thắc mắc. Nhờ vậy mà hôm đó tôi nghiệm ra là những sinh vật
càng nặng nề, càng sát gần mặt đất bao nhiêu thì càng buồn bã bấy nhiêu. Tôi
tìm cách giảng cho cô bé ý niệm vừa mới suy ra; và tôi nhắc tới con sóc nhẹ
nhàng chơi đùa tinh nghịch trên cành cao.

Gertrude lại hỏi có
phải chỉ có chim mới biết bay không. Tôi trả lời là bướm cũng biết bay.

“Thế bướm có biết hót
không?”

Tôi cắt nghĩa:

“Bướm có cách của bướm
để bày tỏ vui mừng. Cách ấy vẽ trên cánh bướm…”

Và tôi tả cho con bé
những màu sắc huy hoàng của loài côn trùng mỹ miều này.

***

Ngày 28 tháng Hai,

Tôi phải trở lại đoạn
trước. Hôm qua ham viết, tôi đã bỏ sót rất nhiều.

Để dạy Gertrude, tôi đã
học mẫu tự của người mù. Nhưng chẳng mấy chốc, cô bé đã thông thạo loại chữ này
hơn tôi. Tôi vẫn chưa quen, và vẫn còn dùng mắt nhiều hơn dùng tay để nhận mặt
chữ. Ngoài ra, tôi không phải là thầy giáo độc nhất của cô bé. Có thời gian
Jacques giúp tôi dạy học Gertrude. Mới đầu tôi cũng mừng, vì mục vụ trong giáo
khu khá bận rộn, dân chúng lại ở rải rác, có khi tôi phải đi khá xa để thăm
viếng những con chiên nghèo bệnh tật. Thằng Jacques học thần học ở Lausanne,
nhân vụ lễ Giáng Sinh về nhà chơi, thế mà cũng đi trượt băng cho ngã gẫy tay.
Vết gẫy không có gì trầm trọng, và bác sĩ Martins tuy không chuyên khoa chỉnh
hình cũng bó lại được ngay ngắn. Tuy nhiên cẩn thận vẫn hơn, Jacques nghỉ học ở
nhà ít lâu để dưỡng bệnh. Bỗng nhiên thằng bé để ý đến Gertrude mà cho đến bây
giờ hắn vẫn thờ ơ. Jacques bắt đầu dạy Gertrude tập đọc. Jacques chỉ đóng vai
phụ giáo được trong thời gian dưỡng bệnh, nhưng trong ba tuần lễ ngắn ngủi đó,
Gertrude tiến bộ vượt bực. Cô bé siêng học hơn. Cái trí tuệ hôm qua còn ngái
ngủ bỗng dưng nảy nở nhanh chóng, tựa hồ như chưa tập đi đã biết chạy. Tôi ngợi
khen cô bé có thể tổ chức sắp xếp ý nghĩ một cách dễ dàng. Ngôn ngữ phát triển
trông thấy. Đã không còn ăn nói ngây ngô như trẻ nít, Gertrude phát biểu khá
chuẩn khi tạo những ý niệm bằng một cách bất ngờ và thích thú, là dùng những đồ
vật biết được một cách trực tiếp nhờ xúc giác, hay gián tiếp do được tả lại;
chúng tôi dùng phương pháp của người đạc điền dùng những gì trong tầm tay sờ
được với được, để xử lý những gì ở xa.

Tôi nghĩ không cần
thiết nhắc lại tất cả những bước đầu việc dạy dỗ Gertrude mà các sách giáo khoa
cho người mù nói chung chắc cũng đã ghi chép đầy đủ với chi tiết. Chắc mọi giáo
viên dạy người mù đã lúng túng khi giảng cho học trò về màu sắc. (Về vụ này,
tôi nhớ lại là Kinh Thánh không có đoạn nào nói đến màu sắc). Tôi không nhớ
người khác dùng cách nào. Riêng tôi, lúc đầu tôi tả cho Gertrude những màu của
quang phổ, theo thứ tự chúng xuất hiện trên cầu vồng. Cách giảng đó làm
Gertrude lẫn lộn ngay màu sắc với độ sáng. Thật là khó khăn cho Gertrude khi
lãnh hội rằng mỗi màu có thể đậm nhạt riêng, và các màu có thể pha trộn với
nhau cho đến vô cùng. Gertrude bị ám ảnh về chuyện này, và luôn luôn trở lại đề
tài khúc mắc đó.

Tuy nhiên một hôm tôi
có dịp đưa Gertrude đi Neuchatel nghe hòa tấu. Công dụng của các nhạc cụ khác
nhau cho phép tôi trở lại vấn đề phân tích màu sắc mà cô bé vẫn còn bận tâm.
Tôi lưu ý Gertrude sự khác nhau về âm thanh của của kèn đồng, đàn, và những
nhạc khí bằng gỗ. Rồi mỗi nhạc cụ lại có thể tạo ra âm thanh to nhỏ khác nhau,
với cung bậc cao thấp, từ tiếng trong nhất đến tiếng đục nhất. Tôi khuyên
Gertrude tưởng tượng màu đỏ hay màu cam trong tạo vật như tiếng tù và hay tiếng
kèn trom-bon, màu vàng hay màu lục như tiếng vĩ cầm, hồ cầm và công-bát, màu
tím và màu xanh dương như tiếng sáo, tiếng cla-ri-nét, hay tiếng ô-boa. Cô bé
sung sướng và không còn ngờ vực gì nữa, màu sắc chắc phải có thật.

Gertrude nhắc đi nhắc
lại:

“Như vậy chắc phải đẹp
lắm, phải không Mục sư?”

Rồi bất chợt cô bé hỏi:

“Thế còn màu trắng thì
sao? Con không hiểu màu trắng thì nghe giống cái gì nhỉ?”

Và tôi thấy ngay cách
đối chiếu màu sắc qua âm thanh của tôi không toàn hảo. Tuy nhiên tôi gắng giải
thích:

“Màu trắng là cái giới
hạn cao nhất của sự hòa tấu giữa các màu tươi. Còn màu đen là giới hạn thấp
nhất của những màu tối.”

Cả Gertrude và tôi đều
không thỏa mãn với giải thích này. Cô bé nhắc cho tôi là nhạc khí bằng gỗ, bằng
đồng, hay đàn vĩ cầm, vẫn khác nhau, dù ở chung những âm bậc cao nhất hay thấp
nhất. Cũng như bao nhiêu lần khác, tôi đã phải sững sờ moi óc tìm những thí dụ
cụ thể để giảng cho cô bé.

Sau cùng tôi nói:

“Thế này nhé. Con hãy
tưởng tượng màu trắng như một màu thật trong sạch, không vẩn đục bởi một màu
nào khác. Tựa như ánh sáng thuần túy. Màu đen đại để là một tình trạng quá
nhiều màu, đến nỗi màu nọ lẫn lộn với màu kia làm toàn thể đen ngòm…”

Hôm nay nhớ lại những
mẫu chuyện vụn vặt này, tôi bèn kể lại đây như tiêu biểu cho những khó khăn rất
thường gặp khi tôi dạy dỗ cô bé. Gertrude có tính tốt là nếu không hiểu thì
không bao giờ làm bộ nhận là mình hiểu. Những người như vậy đầu óc đầy những dữ
kiện sai lầm hay thiếu sót, nên về sau suy luận không còn chính xác nữa.
Gertrude lại khác, có chuyện gì chưa biết đến nơi đến chốn, thì cứ thắc mắc mãi
cho đến khi tường tận mới cam.

Lại còn chuyện khó khăn
này nữa. Như đã nói ở trên, trong đầu óc Gertrude, không biết từ bao giờ, ánh
sáng và nhiệt lượng đã luôn luôn dính liền với nhau, chặt chẽ đến nỗi khi dạy
cô bé, tôi không thể tách rời hai ý niệm đó ra được.

Chính nhờ dạy dỗ
Gertrude mà tôi mới nghiệm thấy sự khác nhau giữa thế giới thị giác và thế giới
thính giác. Đối chiếu hay suy diễn liên hệ qua lại giữa âm thanh và màu sắc quả
thật không sao mà tránh khỏi khập khiễng hồ đồ.

***

Ngày 29 tháng Hai.

Mải viết về âm thanh và
màu sắc, tôi quên chưa kịp kể niềm hân hoan của Gertrude khi được nghe hòa tấu
ở Neuchatel. Tình cờ hôm đó chính vở “Bản Đàn Thôn Dã” được trình diễn. Tôi
dùng chữ “chính” vì không có một bản nhạc nào mà tôi lại muốn cho Gertrude nghe
hơn là bản nhạc này. Ra khỏi rạp một lúc khá lâu mà Gertrude vẫn còn như đang
đắm chìm trong sảng khoái.

Sau cùng cô bé hỏi:

“Những điều mắt thấy có
đẹp đến như vậy không?”

“Đẹp như chuyện gì,
con?”

“Đẹp như cái cảnh ‘ven
bờ suối’ trong bản hòa tấu.”

Tôi không trả lời ngay,
vì tôi nghĩ những lời nhạc ấy không vẽ lại thế giới có thực, mà một thế giới lẽ
ra có thể có, nếu không có tội lỗi xấu xa chết chóc.

Sau cùng tôi nói:

“Những người có thị
giác sướng mà không biết mình sướng.”

Cô bé vội vã lên tiếng:

“Nhưng con đâu có cần
có thị giác mà vẫn biết được hạnh phúc của âm thanh.”

Gertrude vừa bước vừa
ép sát vào người tôi, tựa nặng trên cánh tay tôi như trẻ con thường làm:

“Mục sư ơi, Mục sư có
thấy con hạnh phúc không? Không, con không nói như vậy để làm vui lòng Mục sư
đâu. Nhìn con này: có phải khi người ta nói dối thì chỉ cần nhìn mặt là biết
liền phải không? Còn con, ai nói dối con nghe giọng nói là con biết liền. Mục
sư có nhớ hôm Mục sư nói là Mục sư không khóc khi Dì con (Gertrude thường gọi
vợ tôi là Dì) trách Mục sư không bao giờ biết chiều Dì, con đã biết ngay. Chính
hôm đó con đã nói là Mục sư nói dối con. Nghe giọng nói của Mục sư là con biết
mà. Con đâu có cần sờ má Mục sư để xem có nước mắt hay không.”

Rồi Gertrude bỗng cao
giọng, chậm rãi lập lại một mình:

“Không, hôm đó con đâu
có cần sờ má Mục sư.”

Tôi lúng túng vì lúc đó
chúng tôi chưa ra khỏi khu thị tứ, và câu nói ngây thơ của Gertrude làm mấy
người bộ hành quay đầu lại nhìn. Nhưng Gertrude vẫn nói tiếp:

“Mục sư biết không,
đừng hòng giấu con chuyện gì. Thứ nhất, dối kẻ mù lòa là điều phải tội…”

Tươi cười, nàng nói
thêm:

“Mà thứ hai là con
không mắc lừa đâu.”

Gertrude lại hỏi:

“Mục sư ơi, nói cho con
nghe đi. Bây giờ Mục sư không buồn phải không.”

Như để cho Gertrude hay
là một phần `hạnh phúc hiện tại của tôi là nhờ nàng mà có, tôi cầm tay cô bé
đưa lên môi:

“Không Gertrude con, ta
không buồn. Làm sao mà ta lại buồn được.”

“Vậy mà con biết thỉnh
thoảng Mục sư đã khóc.”

“Ta cũng có khóc một
đôi lần.”

“Nhưng từ hôm đó Mục sư
có còn khóc nữa không?”

“Không, Gertrude cưng.”

“Nói cho con nghe nữa
đi. Từ hôm ấy, có bao giờ Mục sư còn muốn nói dối con nữa không?”

“Không cưng.”

“Mục sư có thể hứa là
từ giờ sẽ không bao giờ dối con nữa không?”

“Hứa.”

“Vậy thì, trả lời con
ngay đi: Con có đẹp không, Mục sư?”

Câu hỏi bất ngờ làm tôi
sững sờ. Nhất là cho đến bấy giờ tôi không muốn ghi nhận vẻ đẹp như đập vào mắt
của cô bé. Vả lại tôi cho rằng nàng biết mình đẹp đâu có ích gì. Tôi hỏi lại
Gertrude:

“Con muốn biết lắm
sao?”

“Con bận tâm chuyện này
lắm. Con muốn biết… con nói làm sao bây giờ… con muốn biết bản thân con có làm
buổi hòa tấu của cuộc sống xấu xí đi không. Điều này nếu con không hỏi Mục sư
thì con hỏi ai bây giờ?”

Gượng chống đỡ, tôi trả
lời:

“Người mục sư thường
không chú ý đến vẻ đẹp của dung nhan.”

“Tại sao, Mục sư?”

“Tại vì với người mục
sư, vẻ đẹp của tâm hồn đã đầy đủ quá rồi.”

“Con biết rồi. Mục sư
muốn cho con hiểu rằng con xấu xí lắm phải không?”

Nàng vừa nói vừa bậm
môi làm duyên. Không còn chịu nổi, tôi buột miệng nói lớn:

“Gertrude cưng, con
cũng biết là con đẹp lắm mà!”

Nàng yên lặng không hỏi
thêm gì nữa, và từ đấy cho đến khi tới nhà, nét mặt thật đăm chiêu.

Vừa thấy tôi về nhà là
Amélie đã cho tôi hiểu là nàng không tán thành cách tôi sử dụng thì giờ. Lẽ ra
nàng nên phản đối ngay từ trước. Tuy nhiên như thường lệ, nàng đã để yên cho
tôi dẫn Gertrude đi nghe nhạc, để dành lấy quyền cằn nhằn trách móc về sau.
Nàng không trách móc thành lời, nhưng sự yên lặng của nàng cũng đã quá rõ ràng.
Biết tôi dẫn Gertrude đi nghe nhạc về mà nàng không buồn hỏi thăm về chương
trình hòa tấu, đã chẳng là chuyện bất thường rồi sao. Tội nghiệp con bé, sự vui
mừng của nó sẽ tăng gia bội phần, nếu nàng chỉ tỏ ra mảy may lưu tâm đến nó.
Nói cho đúng thì vợ tôi không hẳn hoàn toàn lầm lì yên lặng, nhưng nàng chỉ nói
những chuyện vặt vãnh không đâu. Đến tối, khi trẻ con đã đi ngủ hết, tôi mới
nghiêm nghị hỏi vợ:

“Tôi mang Gertrude đi
nghe nhạc mà em cũng bực mình sao?”

Nàng đối đáp:

“Chưa bao giờ em thấy
anh lo cho người thân trong gia đình này như vậy.”

Lại vẫn hờn dỗi cũ.
Nàng vẫn không chịu hiểu rằng đứa con lạc đàn trở về bao giờ cũng làm cha mẹ
vui mừng hơn là đứa con vẫn ở lại nhà. Nàng không thương hại tật nguyền của con
bé. Chút vui thú nhỏ nhoi này là món quà vô cùng hiếm hoi trong cuộc đời bất
hạnh của nó. Mà đâu có gì cho cam, tôi thường xuyên bận rộn, chỉ hôm đó mới
tình cờ được rảnh rang. Nàng thật là hàm hồ, trẻ con hôm ấy không bận chuyện
này thì mắc chuyện kia, còn nàng thì có bao giờ thích nghe hòa nhạc đâu. Những
hôm rảnh rỗi, dù có hòa tấu ngay trước nhà nàng cũng không buồn đi dự. Bực mình
hơn nữa là nhà tôi cằn nhằn trách móc ngay trước mặt Gertrude. Tôi có ý dìu vợ
ra khỏi tầm tai, nhưng nàng lại chủ ý lên giọng cho Gertrude nghe thấy. Tôi
giận hơn là buồn. Lát sau khi Amélie đã vào nhà trong, tôi tới cầm lấy bàn tay
bé bỏng của Gertrude đưa lên má tôi:

“Con coi này, lần này
ta đâu có khóc.”

Gắng lấy giọng vui,
nàng nói:

“Không, lần này là
phiên con.”

Nàng gượng cười và
ngước lên tìm tôi. Tôi thấy một khuôn mặt chan hòa nước mắt.

***

Báo cáo nội dung xấu